STEM Innovation Petrovietnam góp phần hiện thực hóa mục tiêu “5 phẩm chất - 10 năng lực”
TS Thái Văn Tài - Vụ trưởng Vụ Giáo dục Phổ thông (GDPT), Bộ Giáo dục và Đào tạo (GD&ĐT) cho rằng, giáo dục STEM không nằm ở thiết bị hay robot, mà ở cách tổ chức dạy học liên môn gắn với thực tiễn. Chương trình STEM Innovation Petrovietnam là mô hình đồng hành rất đúng thời điểm, góp phần đưa mục tiêu “5 phẩm chất - 10 năng lực” của Chương trình GDPT 2018 vào thực tiễn lớp học, hướng tới hình thành công dân thế kỷ XXI.
![]() |
| TS Thái Văn Tài khẳng định chương trình STEM Innovation Petrovietnam là mô hình đồng hành rất đúng thời điểm |
PV: Thưa ông, từ góc độ khoa học giáo dục, ông có thể làm rõ hơn những giá trị cốt lõi mà giáo dục STEM mang lại cho học sinh?
TS Thái Văn Tài: Theo tinh thần Chương trình GDPT 2018, giá trị cốt lõi của giáo dục STEM không nằm ở việc “thêm một môn học” hay ở robot, thiết bị hiện đại, mà ở cách tổ chức dạy học. STEM cho phép học sinh vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết các vấn đề thực tiễn thông qua trải nghiệm và quá trình tạo ra sản phẩm cụ thể. Chính cách học này tác động trực tiếp đến việc hình thành và phát triển năng lực.
Trước hết, STEM kích hoạt tư duy giải quyết vấn đề một cách hệ thống. Học sinh phải xác định mục tiêu, phân tích yêu cầu, lựa chọn phương án, thử nghiệm và điều chỉnh. Các em không học để “trả bài” mà học để “làm được việc”, từ đó hình thành tư duy logic, năng lực tính toán và ra quyết định.
Bên cạnh đó, STEM nuôi dưỡng sáng tạo và năng lực thiết kế. Nhiệm vụ STEM thường không có một đáp án duy nhất, tạo không gian mở để học sinh phát huy trí tưởng tượng, cách nghĩ riêng và rèn luyện kỹ năng thiết kế từ ý tưởng đến sản phẩm.
STEM cũng rèn luyện hợp tác và giao tiếp thông qua làm việc nhóm. Quá trình phân công, trao đổi, thuyết trình và bảo vệ ý tưởng giúp các em hình thành những năng lực mà cách học truyền thống khó tạo ra.
Quan trọng không kém, STEM giúp phát triển tư duy phản biện và năng lực tự học. Thông qua thử nghiệm, sai sót và điều chỉnh, học sinh học cách đặt câu hỏi, kiểm chứng thông tin, học từ thất bại để tiến bộ. Đồng thời, STEM bộc lộ rõ các phẩm chất như kiên trì, trách nhiệm, trung thực và tinh thần hợp tác.
Tóm lại, giáo dục STEM giúp đưa mục tiêu “5 phẩm chất - 10 năng lực” của Chương trình GDPT 2018 vào thực tiễn lớp học, tạo ra những học sinh biết suy nghĩ, biết làm, biết hợp tác và trưởng thành từ trải nghiệm.
PV: Từ các chỉ đạo của Bộ GD&ĐT, đặc biệt qua các công văn, hệ thống bồi dưỡng giáo viên, đâu là những chuyển biến rõ nét nhất trong nhận thức và thực hành giáo dục STEM tại các trường phổ thông?
TS Thái Văn Tài: Từ các chỉ đạo của Bộ GD&ĐT từ năm 2018 đến nay, giáo dục STEM trong nhà trường phổ thông đã có những chuyển biến khá rõ nét cả về nhận thức lẫn thực hành, dù mức độ giữa các địa phương còn khác nhau.
Trước hết là chuyển biến về nhận thức. Nếu giai đoạn đầu, không ít giáo viên và nhà trường vẫn coi STEM là hoạt động phong trào, tự chọn, thậm chí đồng nhất với robot hay các cuộc thi khoa học kỹ thuật, thì đến nay nhận thức đã rõ ràng hơn: STEM là một phương án tổ chức dạy học bắt buộc để thực hiện Chương trình GDPT 2018. Các công văn chỉ đạo như 3089, 909 cùng hệ thống tài liệu bồi dưỡng từ năm 2019 đã giúp giáo viên hiểu rằng, STEM không phải là “một môn học mới”, mà là cách để tích hợp kiến thức liên môn, tạo cơ hội cho học sinh trải nghiệm và hình thành năng lực.
![]() |
Thứ hai là chuyển biến trong thực hành dạy học. Nhiều trường đã đưa STEM vào kế hoạch giáo dục thường xuyên, gắn với các chủ đề học tập cụ thể thay vì tổ chức rời rạc theo phong trào. Giáo viên bắt đầu thiết kế nhiệm vụ gắn với đời sống, tổ chức cho học sinh làm việc nhóm, thiết kế, thử nghiệm và điều chỉnh sản phẩm, qua đó đánh giá năng lực và phẩm chất một cách thực chất hơn.
Thứ ba là chuyển biến trong bồi dưỡng đội ngũ. Từ năm 2019, Bộ GD&ĐT đã triển khai các module tập huấn về dạy học tích hợp và giáo dục STEM cho giáo viên cốt cán. Nhiều địa phương hiện đã hình thành được lực lượng giáo viên nòng cốt có khả năng hướng dẫn, lan tỏa cách làm STEM trong cụm trường.
Thứ tư là cơ chế triển khai cũng dần hoàn thiện thông qua việc ban hành, điều chỉnh các văn bản như Thông tư 06 và Thông tư 24 về nghiên cứu khoa học kỹ thuật học sinh, giúp hoạt động STEM gắn chặt hơn giữa lớp học và phong trào sáng tạo trong toàn ngành.
Tuy vậy, cần nhìn nhận thẳng thắn rằng, sự chuyển biến này chưa đồng đều. Ở một số nơi, STEM vẫn phụ thuộc nhiều vào điều kiện cơ sở vật chất hoặc cá nhân giáo viên tâm huyết; việc tổ chức dạy học liên môn còn lúng túng. Do đó, thời gian tới cần tiếp tục củng cố nhận thức “STEM là nhiệm vụ”, đồng thời hỗ trợ mạnh hơn về chuyên môn và mô hình tổ chức để các chuyển biến đã có trở nên bền vững và lan tỏa rộng hơn.
![]() |
| Lãnh đạo Petrovietnam xem học sinh trình diễn kỹ thuật điều khiển robot tại phòng STEM của Trường THCS Nguyễn Du - Gia Lai do Petrovietnam tài trợ vào ngày 12/12 |
PV: Trong quá trình triển khai, những khó khăn lớn nhất hiện nay của giáo dục STEM là gì?
TS Thái Văn Tài: Khó khăn lớn nhất của giáo dục STEM hiện nay không nằm ở chủ trương, mà ở đội ngũ giáo viên, cách tổ chức dạy học và tính bền vững của mô hình. Phần lớn giáo viên được đào tạo theo đơn môn, trong khi STEM đòi hỏi tư duy tích hợp và phối hợp liên môn, khiến nhiều thầy cô còn e ngại lo lắng vượt khỏi môn mình phụ trách, chưa đủ tự tin khi thiết kế các nhiệm vụ học tập mở. Áp lực chương trình và công việc cũng hạn chế thời gian đầu tư cho STEM.
Bên cạnh đó, việc tổ chức dạy học liên môn ở nhiều trường còn thiếu đồng bộ; sự phối hợp giữa các tổ chuyên môn, thời khóa biểu và tiêu chí đánh giá chưa thống nhất, khiến STEM dễ bị đẩy thành hoạt động ngoại khóa hoặc phong trào ngắn hạn.
Tiếp đó là thách thức về tính bền vững của các mô hình STEM, khi thiếu đội ngũ nòng cốt và cơ chế vận hành rõ ràng.
Vì vậy, để STEM phát huy hiệu quả lâu dài, cần coi đây là nhiệm vụ xuyên suốt của nhà trường, phát triển giáo viên cốt cán theo cụm, vùng và tổ chức mô hình STEM theo hướng hạt nhân - vệ tinh, gắn chặt với Chương trình GDPT 2018 và công tác bồi dưỡng thường xuyên. Khi con người, tổ chức và cơ chế vận hành được giải quyết đồng bộ, các mô hình STEM mới có thể phát huy hiệu quả lâu dài.
PV: Theo ông, làm thế nào để giáo viên khai thác STEM hiệu quả từ những hoạt động học tập gần gũi với đời sống, nhất là ở bậc tiểu học?
TS Thái Văn Tài: Điều tôi luôn nhấn mạnh là STEM không bắt đầu từ thiết bị hay robot, mà từ cách tổ chức hoạt động học tập. Nếu đồng nhất STEM với công nghệ cao, chúng ta sẽ tự tạo rào cản, đặc biệt ở bậc tiểu học. Trong khi đó, cốt lõi của STEM là vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết những vấn đề rất cụ thể, rất gần gũi với đời sống học sinh.
Ở tiểu học, STEM có thể bắt đầu từ những nhiệm vụ giản dị như thiết kế một tấm thiệp, một đồ chơi hay một vật dụng quen thuộc. Trong quá trình đó, học sinh vận dụng toán để đo, cắt, ước lượng; mỹ thuật để tạo hình; ngôn ngữ để trình bày ý tưởng, đồng thời rèn kỹ năng hợp tác. Đó chính là STEM, không cần đợi đến robot hay thiết bị hiện đại.
Điểm mấu chốt là giáo viên chuyển vai trò từ truyền đạt kiến thức sang thiết kế nhiệm vụ học tập, từ câu hỏi “dạy thế nào” sang “học sinh làm gì với kiến thức này trong đời sống”. Khi nhiệm vụ được thiết kế mở, có nhiều cách làm và sản phẩm khác nhau, học sinh sẽ chủ động và sáng tạo hơn.
Bên cạnh đó, giáo viên tiểu học cần mạnh dạn tích hợp linh hoạt các môn học. STEM có thể diễn ra ngay trong một tiết toán, một hoạt động trải nghiệm, hay một dự án nhỏ kéo dài vài buổi học, miễn là học sinh được trải nghiệm, được làm và được rút ra bài học.
Nói cách khác, để STEM hiệu quả ở tiểu học, giáo viên không cần chờ điều kiện lý tưởng, mà cần thay đổi tư duy tổ chức dạy học. Khi STEM được nhìn thấy ngay trong các hoạt động đời sống hằng ngày, nó sẽ trở nên nhẹ nhàng, tự nhiên và bền vững.
![]() |
| TS Thái Văn Tài phát biểu tại Hội nghị triển khai chương trình STEM Innovation Petrovietnam |
PV: Thưa ông, Bộ GD&ĐT nhìn nhận STEM Innovation Petrovietnam có vai trò như thế nào đối với việc hiện thực hóa mục tiêu phát triển phẩm chất, năng lực công dân thế kỷ XXI?
TS Thái Văn Tài: Chúng tôi nhìn nhận STEM Innovation Petrovietnam không phải là một chương trình bổ trợ mang tính phong trào, mà là một mô hình đồng hành rất đúng thời điểm để hiện thực hóa mục tiêu phát triển phẩm chất và năng lực công dân thế kỷ XXI đã xác định trong Chương trình GDPT 2018.
Điểm quan trọng nhất của STEM Innovation Petrovietnam là giúp chuyển hóa mục tiêu của chương trình từ “định hướng” sang “thực hành”. Chương trình GDPT 2018 đặt ra đích đến rất rõ: hình thành 5 phẩm chất và 10 năng lực cốt lõi cho học sinh. Tuy nhiên, để các năng lực không chỉ nằm trên giấy, cần không gian, phương án và điều kiện tổ chức dạy học phù hợp. STEM Innovation Petrovietnam chính là một trong những mô hình tạo điều kiện để giáo viên tổ chức dạy học tích hợp, trải nghiệm và phát triển năng lực học sinh một cách thực chất.
Thứ hai, chương trình này góp phần mở rộng không gian học tập, từ học “nghe - nhớ” sang học “làm - trải nghiệm - sáng tạo”. Thông qua các hoạt động STEM, học sinh có cơ hội vận dụng kiến thức liên môn để giải quyết vấn đề thực tiễn, qua đó hình thành các năng lực quan trọng của công dân thế kỷ XXI như tư duy phản biện, sáng tạo, hợp tác, giao tiếp, sử dụng công nghệ và thích ứng với thay đổi.
Thứ ba, STEM Innovation Petrovietnam tạo ra một mô hình điểm có khả năng lan tỏa, gắn với tinh thần của Nghị quyết 57 và Nghị quyết 71 của Bộ Chính trị về phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là nhân lực khoa học công nghệ. Nếu được tổ chức và vận hành đúng cách, đây không chỉ là những phòng học hiện đại, mà là “hạt nhân” thúc đẩy đổi mới phương pháp dạy học, bồi dưỡng giáo viên và kết nối các nhà trường trong cùng một cụm chuyên môn.
Có thể nói, vai trò lớn nhất của STEM Innovation Petrovietnam là giúp nhà trường làm tốt hơn nhiệm vụ vốn đã được giao trong Chương trình GDPT 2018, đồng thời tạo thêm động lực, điều kiện và niềm tin để GDPT Việt Nam từng bước hình thành thế hệ học sinh có đủ phẩm chất, năng lực và bản lĩnh hội nhập trong thế kỷ XXI.
PV: Vậy Bộ GD&ĐT đã có định hướng gì để kết nối 100 phòng thực hành giáo dục STEM theo mô hình hạt nhân - vệ tinh, thưa ông?
TS Thái Văn Tài: Ngay từ đầu, Bộ GD&ĐT đã xác định rất rõ: 100 phòng thực hành giáo dục STEM không được hiểu là 100 phòng học “đóng kín” của 100 trường, mà phải được tổ chức theo mô hình hạt nhân - vệ tinh, gắn với cụm chuyên môn và có cơ chế vận hành chung. Đây là điều kiện tiên quyết để tránh tình trạng đầu tư xong nhưng sử dụng manh mún, kém hiệu quả hoặc thậm chí không vận hành được.
Đầu tiên, về vai trò và chức năng, các phòng STEM được định vị là mô hình điểm, có tính chất hạt nhân của một vùng hoặc một cụm trường. Tài sản của phòng học không phải là tài sản riêng của một nhà trường, mà là nguồn lực dùng chung để phục vụ hoạt động giáo dục STEM cho nhiều trường trong cùng địa bàn. Cách tiếp cận này giúp khắc phục hạn chế về nhân lực và năng lực chuyên môn không đồng đều giữa các trường.
Tiếp theo, về tổ chức đội ngũ, Bộ GD&ĐT định hướng xây dựng lực lượng giáo viên nòng cốt theo cụm, không chỉ tập huấn cho giáo viên của trường được đặt phòng STEM. Giáo viên tham gia vận hành phòng hạt nhân sẽ đến từ nhiều trường khác nhau, có thế mạnh khác nhau về khoa học, công nghệ, kỹ thuật, mỹ thuật…, qua đó hình thành mạng lưới chuyên môn đủ năng lực khai thác tối đa công năng của phòng học.
Thứ ba, về cơ chế vận hành, mỗi phòng STEM phải có quy chế sử dụng rõ ràng, kế hoạch hoạt động định kỳ và lộ trình phục vụ cụ thể cho các trường vệ tinh. Hoạt động của phòng cần gắn với kế hoạch giáo dục của các nhà trường và với yêu cầu thực hiện Chương trình GDPT 2018, không tách rời thành một không gian “ngoài chương trình”.
Thứ tư, về bồi dưỡng và lan tỏa, Bộ GD&ĐT định hướng xây dựng các module tập huấn giáo viên gắn trực tiếp với 100 phòng STEM này, coi đây là “trạm trung chuyển” để nâng cao năng lực giáo viên trên diện rộng. Khi giáo viên được tập huấn, được thực hành và được hỗ trợ chuyên môn thường xuyên, phòng học sẽ luôn có người vận hành, có hoạt động và có sức sống.
PV: Từ thực tiễn chỉ đạo và triển khai, ông có kiến nghị, đề xuất nào đối với các bộ, ngành, địa phương và doanh nghiệp để giáo dục STEM nói chung và STEM Innovation Petrovietnam nói riêng thực sự trở thành động lực chiến lược của GDPT Việt Nam trong giai đoạn tới?
TS Thái Văn Tài: Để giáo dục STEM nói chung và STEM Innovation Petrovietnam nói riêng thực sự trở thành động lực chiến lược của GDPT trong giai đoạn tới, chúng ta phải chuyển từ tư duy “tặng một phòng học” sang tư duy “xây một hệ sinh thái vận hành”.
Với các bộ, ngành ở cấp trung ương, chúng tôi kiến nghị tăng cường phối hợp liên ngành để hình thành một cơ chế đồng bộ. STEM muốn bền vững phải gắn với khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và phát triển nhân lực. Vì vậy, cần có các chương trình liên thông về chuẩn thiết bị, tài liệu học tập mở, an toàn phòng học, hỗ trợ chuyên gia… để địa phương triển khai thuận lợi, đồng bộ. Cùng với đó, cần thúc đẩy mạnh hơn truyền thông quốc gia, để xã hội hiểu đúng: STEM không phải “phong trào” mà là con đường hình thành năng lực công dân tương lai.
Với địa phương, cần coi triển khai STEM là nhiệm vụ của hệ thống giáo dục của tỉnh, thành, không phải nhiệm vụ của riêng một trường được chọn làm mô hình. Muốn vậy, địa phương cần làm ba việc: Thiết kế mô hình hạt nhân - vệ tinh đúng nghĩa, xác lập cụm trường, quy chế dùng chung, lịch hoạt động định kỳ; Bố trí nhân lực và thời gian, có giáo viên nòng cốt, có cơ chế giảm tải - hỗ trợ để thầy cô có thời gian thiết kế hoạt động STEM; Bảo đảm vận hành và giám sát, coi hiệu quả sử dụng phòng STEM là một tiêu chí quản lý, không để tình trạng đầu tư xong để đấy.
Với nhà trường và đội ngũ giáo viên, cần thay đổi tư duy tổ chức dạy học. STEM phải được đưa vào kế hoạch giáo dục, gắn với Chương trình GDPT 2018, không tách thành hoạt động ngoại khóa thuần túy. Giáo viên cần được hỗ trợ để chuyển từ “dạy kiến thức” sang “thiết kế nhiệm vụ học tập”, tăng cường dạy học tích hợp, trải nghiệm, dự án. Bản chất của STEM là tạo cơ hội cho học sinh làm, thử, sai và tự rút ra bài học - đó mới là giáo dục bền vững.
Với doanh nghiệp, trong đó có Petrovietnam và các đơn vị đồng hành, chúng tôi rất trân trọng sự hỗ trợ về cơ sở vật chất. Tuy nhiên, để chương trình đi xa, doanh nghiệp cần đồng hành theo “chuỗi giá trị”: không chỉ trang bị phòng học, mà cùng ngành giáo dục xây dựng chương trình tập huấn, tài liệu hướng dẫn, mạng lưới chuyên gia, sân chơi học thuật và cơ chế vận hành bền vững. Với STEM Innovation Petrovietnam, tôi đề xuất doanh nghiệp phối hợp cùng Bộ GD&ĐT xây dựng các module bồi dưỡng giáo viên trên nền tảng 100 phòng hạt nhân, đồng thời đẩy mạnh lan tỏa qua truyền hình, nền tảng số và các cuộc thi khoa học kỹ thuật nhằm tạo động lực thường xuyên cho học sinh.
Tóm lại, nếu chúng ta muốn STEM trở thành động lực chiến lược, thì phải thống nhất một nguyên tắc: STEM không thể thành công bằng một cú đầu tư, mà phải thành công bằng một hành trình vận hành. Khi “hai bàn tay” - một bên là chương trình, một bên là nguồn lực xã hội - bắt đúng nhịp, đồng điệu mục tiêu và cùng chịu trách nhiệm, thì STEM Innovation Petrovietnam sẽ không chỉ là 100 phòng học, mà là 100 “hạt mầm” có khả năng nảy nở, lan tỏa và tạo ra quả ngọt cho tương lai nguồn nhân lực Việt Nam.
PV: Xin trân trọng cảm ơn ông!
| Xuất phát từ ý tưởng của Tổng Bí thư Tô Lâm, Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam) đã có sáng kiến triển khai Chương trình “STEM Innovation Petrovietnam”, chương trình được đích thân Tổng Bí thư, Thủ tướng Chính Phủ và các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước khởi động tại lễ kỷ niệm 50 năm thành lập Petrovietnam. Với mục tiêu xây dựng 100 phòng STEM đạt chuẩn quốc tế tại 34 tỉnh, thành trên cả nước, là dự án giáo dục quy mô lớn nhất từ trước đến nay do một doanh nghiệp khởi xướng, là bước đi mang tầm chiến lược quốc gia trong đào tạo nguồn nhân lực khoa học - công nghệ, góp phần hình thành thế hệ công dân tri thức năng lượng mới của Việt Nam. |
Minh Tiến








