Bà Nguyễn Thị Bình: Người kiến tạo cầu nối hợp tác dầu khí giữa Việt Nam và thế giới
Một ngày tháng Sáu năm 2025, tôi bất ngờ nhận được một món quà quý, đó là cuốn hồi ký “Gia đình, Bạn bè và Đất nước” của bà Nguyễn Thị Bình, nguyên Phó Chủ tịch nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Ở phần đề tặng, ngoài dấu mộc đóng hai chữ “Kính tặng!” màu xanh thì có chữ ký của bà Bình, nhỏ nhắn mỏng manh như chữ học trò, có phần run run do tuổi tác,
Hồi ký trang 116, bà Bình kể lại:
“Sáng 27/01/1973, phòng Hội nghị Kléber rực sáng ánh đèn. Trước nhà hội nghị, hàng ngàn người - kiều bào ta, bạn bè Pháp và các nước - vẫy chào chúng tôi giữa một rừng cờ. Tôi bước vào phòng họp, rất hồi hộp... Đúng 10 giờ, bốn Bộ trưởng Ngoại giao của Việt Nam Dân chủ Cộng hòa (Nguyễn Duy Trinh), Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (Nguyễn Thị Bình), Mỹ (William P. Rogers), Việt Nam Cộng hòa (Trần Văn Lắm) ngồi vào bàn. Mỗi người ký vào 32 văn bản của Hiệp định.
Đặt bút ký vào bản Hiệp định Paris lịch sử, tôi vô cùng xúc động... Tôi như thay mặt nhân dân và các chiến sĩ cách mạng miền Nam Việt Nam làm nhiệm vụ đấu tranh trên tiền tuyến và trong lao tù cắm ngọn cờ chiến thắng chói lọi”.
Vâng, con người của lịch sử là bà Bình, người đã ký 32 văn bản của Hiệp định Paris đóng dấu mốc kết thúc cho cuộc chiến tranh của Mỹ tại Việt Nam, một chữ ký xét về tầm vóc lớn lao không gì so sánh được, thì thực tế trước mặt tôi kia, lại chỉ là một chữ ký nhỏ nhắn mỏng manh như chữ học trò. Giống hệt như lần chúng tôi được đón bà Bình ở thủ đô Alger năm 2009, cũng có phần lo lắng khi nghe tới “người đàn bà thép” hay “madame Bình” ở hòa đàm Paris năm đó, nhưng đến khi gặp bà, trong trang phục áo dài tay trắng và quần lụa đen, tóc phi dê, dáng hình nhỏ nhắn, nụ cười hiền lành cùng ánh mắt ấm áp, tôi thấy giống hệt bà ngoại tôi ở nhà, mọi thứ lo lắng tan biến cả. Tôi chợt nhớ đến câu nói “Sự vĩ đại nằm trong sự giản dị” và thấy bà đúng là điển hình của câu nói đó.
Đọc xong cuốn hồi ký, liên hệ với những gì được thấy, được nghe, được tiếp xúc trong gần 20 năm công tác trong ngành dầu khí, tôi chợt nhận ra một điều: Bà Nguyễn Thị Bình không chỉ là một nhà ngoại giao xuất chúng, một biểu tượng của tinh thần đấu tranh vì hòa bình và độc lập, mà còn là một nhân vật có tầm ảnh hưởng sâu rộng trong công tác đối ngoại của Đảng và Nhà nước Việt Nam, đặc biệt trong việc mở rộng quan hệ quốc tế, bao gồm cả lĩnh vực hợp tác dầu khí. Với tầm vóc và vai trò cầu nối đặc biệt của mình, bà đã góp phần quan trọng vào việc xây dựng nền móng cho ngành dầu khí Việt Nam trong hợp tác quốc tế, đặc biệt là với các nước bạn bè truyền thống như Cuba, Vê-nê-xuê-la, I-rắc và An-giê-ri.
Tầm vóc của một nhà ngoại giao kiệt xuất
Bà Nguyễn Thị Bình, tên thật là Nguyễn Thị Châu Sa, sinh ngày 26/5/1927 trong một gia đình giàu truyền thống cách mạng, là Bộ trưởng Ngoại giao của Chính phủ Cách mạng Lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam và là người phụ nữ duy nhất đặt bút ký vào Hiệp định Paris năm 1973. Sự nghiệp ngoại giao của bà không chỉ gói gọn trong những cuộc đàm phán lịch sử mà còn trải dài qua nhiều giai đoạn quan trọng của đất nước, từ đấu tranh giải phóng dân tộc đến xây dựng và phát triển. Với sự thông tuệ, bản lĩnh, và khả năng kết nối đặc biệt, bà đã tạo dựng được uy tín và sự kính trọng lớn trên trường quốc tế. Dù sau này được Đảng và Nhà nước giao nhiều trọng trách lớn hơn như Phó Chủ tịch nước hay Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, thì với bà Bình, “mười bốn năm hoạt động đối ngoại cho Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam - Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam (1962-1976) trong cuộc đời tôi, đó là khoảng thời gian đáng ghi nhớ nhất”.
Thành tựu lớn nhất được ghi nhận có phần đóng góp quan trọng của bà Bình là đến ngày 30/4/1975, Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam đã được 65 nước công nhận về ngoại giao, trong đó, các nước xã hội chủ nghĩa, các nước châu Phi là nhiều nhất. Đó chính là nền tảng quan trọng sau này giúp Việt Nam nhanh chóng hòa nhập và hợp tác kinh tế với các nước trên thế giới sau khi bình thường hóa quan hệ với Mỹ năm 1995.
Bà Nguyễn Thị Bình cũng là biểu tượng của hòa bình, là đại diện của Việt Nam tại các Hội nghị các nước trong phong trào không liên kết (NAM), cộng đồng các nước nói tiếng Pháp (Francophonie), vì thế bà có mối quan hệ thân thiết và là bạn của nhiều nguyên thủ và lãnh đạo quốc gia trên thế giới.
Vai trò cầu nối trong quan hệ quốc tế và hợp tác dầu khí
Những ngày sau 30/4/1975, trong bối cảnh Việt Nam tái thiết đất nước sau chiến tranh, việc thiết lập và củng cố quan hệ ngoại giao với các nước là vô cùng cần thiết để tìm kiếm sự hỗ trợ, hợp tác phát triển kinh tế. Bà Nguyễn Thị Bình đã đóng vai trò then chốt trong việc mở rộng các mối quan hệ này, đặc biệt với các quốc gia có tiềm năng về tài nguyên và công nghệ, trong đó có dầu khí. Bà kể lại trong hồi ký:
“Mấy tháng sau đó, tôi cùng anh Nguyễn Cơ Thạch và một số đồng chí đi thăm Mê-hi-cô, Vê-nê-xuê-la... để nghiên cứu khả năng khai thác dầu. Sau ngày giải phóng, mối lo thứ nhất là làm sao đủ gạo cho dân, mối lo thứ hai là dầu. Hợp tác giữa Việt Nam với Liên Xô về dầu khí bắt đầu từ đây. Nhưng trước mắt phải vay dầu để phục vụ cho hoạt động kinh tế, quân sự và đời sống của nhân dân”.
Nhớ lại thời điểm đó (tháng 10/1975), ở nước ta mới chỉ có một phát hiện khí ở Đông Cơ, Tiền Hải, Thái Bình, sau phát triển thành mỏ khí Tiền Hải C, còn phía Nam trước 1975 có một vài phát hiện của một số nhà thầu nước ngoài như Đại Hùng, Bạch Hổ, Dừa nhưng còn ở dạng sơ khai, chưa có điều kiện để phát triển khai thác.
Với I-rắc: Kỷ niệm về “món quà dầu khí” từ Saddam Hussein
Quan hệ Việt Nam - I-rắc được thiết lập từ rất sớm, và I-rắc là một trong những quốc gia Ả Rập đầu tiên thiết lập quan hệ ngoại giao với Việt Nam. Với tư cách là một quốc gia sản xuất dầu lớn, I-rắc đã trở thành đối tác tiềm năng cho Việt Nam trong việc học hỏi kinh nghiệm, tiếp cận công nghệ và nguồn lực về dầu khí.
Tháng 10/1975, sau khi đất nước thống nhất, bà Nguyễn Thị Bình đã dẫn đầu một đoàn ngoại giao đến I-rắc với một nhiệm vụ quan trọng, đó là vận động Chính phủ I-rắc cho Việt Nam vay dầu. Đây là một nhiệm vụ không hề dễ dàng trong bối cảnh Việt Nam còn gặp muôn vàn khó khăn sau chiến tranh. Tại chuyến thăm này, bà đã được Phó Tổng thống Saddam Hussein, thời điểm đó đang được coi là “người hùng” ở I-rắc, tiếp đón thân mật tại lâu đài Al-Faw ở Baghdad. Cuộc gặp gỡ này không chỉ thể hiện tình hữu nghị sâu sắc mà còn mang lại kết quả cụ thể rất lớn. Bà kể lại trong hồi ký:
“Khi nghe chúng tôi trình bày yêu cầu bức thiết của Việt Nam, ông trả lời ngay: “Chúng tôi đã quyết định tặng Việt Nam 400 ngàn tấn dầu và cho vay 1,5 triệu tấn với lãi suất ưu đãi”. Tôi nghe mà không tin ở tai mình, hỏi lại đồng chí phiên dịch mới chắc đó là sự thật. Sau này khi I-rắc bị cấm vận, phải đổi dầu lấy lương thực, các bạn vẫn dành cho Việt Nam những hợp đồng trao đổi thương mại rất thuận lợi trong lúc chúng ta còn nhiều khó khăn về kinh tế”.
Không chỉ dừng lại ở đó, vào năm 2002, trước khi nghỉ hưu, bà Nguyễn Thị Bình đã có chuyến thăm I-rắc lần cuối để giải quyết món nợ kéo dài hơn 20 năm ta còn chưa trả xong. Bà chia sẻ: “Theo ý kiến của các đồng chí ở Chính phủ, chúng ta đề nghị chuyển số tiền nợ thành số vốn đầu tư vào một dự án kinh tế ở Việt Nam. Khi tôi gặp ông Saddam Hussein (lúc này đã là Tổng thống) trình bày ý kiến này thì ông cười, nói ngay: “Các bạn Việt Nam không nên bận tâm. Tôi biết các bạn còn khó khăn, ta xem như số nợ này đã trả”. Thật xúc động khi biết rằng trong thời điểm đó I-rắc bị Mỹ cấm vận, khó khăn chồng chất các mặt”. Điều này không chỉ là một cử chỉ hào phóng mà còn là minh chứng rõ nét cho mối quan hệ đặc biệt và sự trân trọng mà các nhà lãnh đạo I-rắc dành cho bà Nguyễn Thị Bình và Việt Nam. Chính những chuyến thăm và sự kết nối cá nhân của bà Bình đã tạo nên nền tảng vững chắc cho sự hợp tác sau này giữa hai nước khi dự án thăm dò khai thác mỏ Amara ở I-rắc đã được ký kết ngay sau đó vào năm 2003, là dự án đầu tiên ở nước ngoài của ngành dầu khí Việt Nam.
Với An-giê-ri: Tình hữu nghị từ những năm tháng kháng chiến
Tương tự I-rắc, An-giê-ri cũng là một trong những quốc gia có mối quan hệ đặc biệt và bền chặt với Việt Nam, được xây dựng từ những năm tháng đấu tranh chống thực dân. Đối với nhiều nước châu Phi, Mỹ Latinh, Việt Nam được coi là tấm gương, nhờ đó đã nhận được sự ủng hộ, giúp đỡ to lớn từ Chính phủ của các nước này, An-giê-ri cũng không là ngoại lệ. Tổng thống An-giê-ri Houari Boumedienne lúc sinh thời và Ngoại trưởng Abdelaziz Bouteflika - sau này là Tổng thống (nhiệm kỳ 1999-2019) - luôn ủng hộ mạnh mẽ cuộc đấu tranh của Việt Nam, coi đó là cuộc đấu tranh của chính nhân dân mình. Bà Bình nhớ lại: “Tôi đã đi thăm nhiều nước châu Phi, có lẽ đến gần một nửa số nước của lục địa rộng lớn này. Ở đâu, lập trường của Việt Nam luôn được sự hưởng ứng của Chính phủ nhiều nước châu Phi, đặc biệt của An-giê-ri, Ghi-nê, Ma-li, Madagascar... Tổng thống An-giê-ri quan tâm cả đến việc đi lại của tôi trong hoạt động đối ngoại, có lần ông nói: “Nếu đi hoạt động nơi nào có đường bay của An-giê-ri, xin mời bà đi miễn phí”. Mãi đến nay, dù tình hình hai nước có sự phát triển cụ thể khác nhau, nhưng ở An-giê-ri mỗi khi nói đến Việt Nam, mọi người đều đặt tay lên tim và hô lên: “Hồ Chí Minh, Điện Biên Phủ, Võ Nguyên Giáp!”
Mỏ Bir Seba (Algeria) |
Có thể nói, Việt Nam và An-giê-ri có mối gắn bó lịch sử đặc biệt. Năm 1954, Việt Nam kết thúc cuộc kháng chiến chống Pháp bằng thắng lợi vang dội Điện Biên Phủ, thì liền sau đó An-giê-ri đã tiến hành cuộc chiến đấu của họ, và đến 1962 giành được độc lập, tự do từ tay thực dân Pháp sau Hiệp định Evian. An-giê-ri rất biết ơn Việt Nam, coi Việt Nam là người dẫn đường cho cuộc đấu tranh của chính họ và của phòng trào độc lập dân tộc trên thế giới.
Bà Nguyễn Thị Bình và ông Bouteflika có mối quan hệ thân thiết, khi ông còn là Ngoại trưởng Algeria (trước khi trở thành Tổng thống), đã có nhiều cơ hội làm việc và gặp gỡ tại các diễn đàn quốc tế và trong các chuyến thăm song phương. Mối quan hệ giữa họ không chỉ là quan hệ công việc mà còn là tình bạn, sự tôn trọng lẫn nhau, bắt nguồn từ tinh thần đoàn kết chống chủ nghĩa thực dân. Tổng thống Bouteflika từng ca ngợi bà Nguyễn Thị Bình là “biểu tượng của một thế hệ các nhà cách mạng kiên cường”. Chính sự gắn kết về mặt chính trị và ngoại giao do bà và các nhà lãnh đạo khác vun đắp đã tạo môi trường thuận lợi để Việt Nam có thể tiếp cận với các nguồn lực và kiến thức chuyên môn từ Algeria, đặt nền móng cho những dự án hợp tác dầu khí sau này.
Là một nước xuất khẩu dầu và khí đốt lớn, thành viên của OPEC, An-giê-ri là địa bàn chiến lược, nơi dự án thăm dò khai thác dầu khí ở Lô 433a & 416b, sa mạc Sa-ha-ra của PVEP đã được ký kết từ 2003 dưới thời Tổng thống Bouteflika, quá trình triển khai thành công tốt đẹp, trở thành điểm sáng trong chiến lược đầu tư ra nước ngoài của Petrovietnam. Cho đến hiện tại, dự án vẫn đang đóng góp phần quan trọng trong kết quả thực hiện nhiệm vụ kế hoạch sản xuất của PVEP và Petrovietnam.
Với Cuba: Vun đắp tình hữu nghị đặc biệt
Mối quan hệ Việt Nam - Cuba là mối quan hệ hữu nghị đặc biệt, “như anh em một nhà”. Bà Nguyễn Thị Bình, với tư cách là một nhà ngoại giao kỳ cựu và biểu tượng của Việt Nam trong chiến tranh chống Mỹ, đã góp phần vun đắp tình hữu nghị này. Bà có nhiều cơ hội gặp gỡ và làm việc với Chủ tịch Fidel Castro, người luôn dành sự ngưỡng mộ lớn cho Việt Nam và cuộc đấu tranh của dân tộc Việt Nam. Những chuyến thăm của bà tới Cuba không chỉ là sự trao đổi ngoại giao thông thường mà còn là những cuộc gặp gỡ của những người bạn, người đồng chí. Mối quan hệ thân thiết giữa bà Bình và Fidel Castro đã củng cố thêm tình đoàn kết giữa hai quốc gia.
Bà kể lại trong hồi ký: “Đối với châu Mỹ, thời gian đó tôi chỉ đi được Cuba vài lần. Những ấn tượng về đồng chí Fidel Castro, về nhân dân Cuba đối với tôi vô cùng sâu sắc. Chị Melba Hernandez, Chủ tịch Ủy ban Đoàn kết với Việt Nam, đặc biệt dành cho Việt Nam những tình cảm sâu nặng... Hàng nghìn thanh niên Cuba tình nguyện sang Việt Nam chiến đấu, đó là sự động viên rất lớn đối với nhân dân Việt Nam”.
Dù Cuba không phải là quốc gia xuất khẩu dầu lớn như I-rắc hay Vê-nê-xuê-la, nhưng sự hợp tác với Cuba trong lĩnh vực khoa học kỹ thuật, y tế và nông nghiệp đã gián tiếp hỗ trợ cho sự phát triển tổng thể của Việt Nam, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đa dạng hóa các mối quan hệ kinh tế, trong đó có việc tìm kiếm đối tác dầu khí sau này. Đến những năm đầu thế kỷ 21, giữa Petrovietnam và CUPET đã có cơ hội đàm phán và ký kết hợp đồng thăm dò và khai thác dầu khí tại hai Lô 13 và 21A, tuy nhiên do nhiều diễn biến bất lợi cả khách quan và chủ quan nên dự án đã phải kết thúc sớm, dù vậy đây cũng là điểm mốc đánh dấu những bước chân đầu tiên của người dầu khí Petrovietnam/PVEP tới khu vực châu Mỹ xa xôi.
Có thể nói, tình hữu nghị sắt son giữa hai nước là nền tảng để Việt Nam mở rộng tầm ảnh hưởng sang khu vực Mỹ Latinh, trong đó có Peru và Vê-nê-xuê-la.
Với Vê-nê-xuê-la: Mở đường cho hợp tác về dầu khí ở Nam Mỹ
Khác với Cuba, Vê-nê-xuê-la là một trong những quốc gia có trữ lượng dầu mỏ lớn nhất thế giới, mối quan hệ hợp tác giữa hai nước được xây dựng dựa trên mong muốn đa dạng hóa đối tác của Việt Nam. Bà Nguyễn Thị Bình, trong những năm bà giữ cương vị Phó Chủ tịch nước, đã có những đóng góp trong việc thúc đẩy quan hệ với Venezuela. Mối quan hệ này sau đó được phát triển mạnh mẽ dưới thời Tổng thống Hugo Chávez, người đã dành nhiều sự quan tâm đặc biệt cho Việt Nam và mong muốn tăng cường hợp tác kinh tế, trong đó có lĩnh vực dầu khí.
Nhưng từ trước đó rất lâu, đã có một câu chuyện tuyệt vời được viết nên bởi những người chiến sĩ cách mạng hai nước, đó là sự kiện Nguyễn Văn Trỗi ở Việt Nam và nhóm du kích UTC của Vê-nê-xuê-la. Bà Bình nhớ lại:
“Niềm hạnh phúc lớn nhất của một chiến sĩ cách mạng là được phục vụ cho sự nghiệp chính nghĩa. Điều đó giải thích vì sao các chiến sĩ cách mạng ở Mỹ Latinh, ở Vê-nê-xuê-la xa xôi đã xúc động trước hành động anh hùng của Nguyễn Văn Trỗi ở Việt Nam.
Đầu tháng 8/1964, Tư lệnh Luis Correa (nhóm du kích UTC) thông báo cho mọi người biết là ở Việt Nam có một thợ điện tên là Nguyễn Văn Trỗi đã mưu sát Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Mỹ McNamara. Cuộc ám sát không thành và anh Trỗi bị bắt. Chính quyền Sài Gòn sẽ mang anh Trỗi ra xử bắn. Ông Luis Correa giao cho tổ chức hành động của UTC có 12 người phải tổ chức bắt cóc một tên Mỹ nào đó để đổi lấy anh Trỗi.
Tổ hành động chia 12 người ra làm bốn nhóm. Một nhóm đi bắt, một nhóm áp giải chuyển đi, nhóm giam giữ và nhóm trao đổi. Việc giải cứu sau đó không thành, nhưng tình cảm của những người bạn chiến đấu tận Nam Mỹ xa xôi thật đáng quý trọng”.
Sự kiện này, Tố Hữu đã nhắc đến trong bài thơ “Hãy nhớ lấy lời tôi”:
“Anh đã chết, anh Trỗi ơi, có biết
Máu kêu máu, ở trên đời, tha thiết
Du kích quân Ca-ra-cát đã vì anh
Bắt một tên giặc Mỹ giữa đô thành”
Sự quan tâm và các cuộc trao đổi ban đầu mà bà Bình đã thực hiện trong các chuyến thăm và làm việc tại Vê-nê-xuê-la từ 1975 đã góp phần kiến tạo và đặt nền móng cho những dự án hợp tác dầu khí quan trọng sau này giữa Tập đoàn Dầu khí Việt Nam (Petrovietnam) và Công ty Dầu khí Quốc gia Venezuela (PDVSA), thể hiện vai trò là cầu nối chiến lược ngoại giao trong mặt trận kinh tế.
Vĩ thanh
Nhìn lại hành trình 50 năm hình thành và phát triển ngành dầu khí của Việt Nam, có thể thấy việc tạo ra những cơ hội để hợp tác, tiếp cận công nghệ, vốn và kinh nghiệm từ nước ngoài là cực kỳ quan trọng. Các nước như Iraq, Algeria, Venezuela, với kinh nghiệm lâu năm trong ngành dầu khí và trữ lượng lớn, từ những đối tác tiềm năng đã trở thành những đối tác quan trọng, hiện thực hóa bằng những dự án hợp tác, trong đó có những dự án mang lại hiệu quả rất lớn. Chính nhờ những nỗ lực không ngừng nghỉ Đảng, Nhà nước trong lĩnh vực ngoại giao, trong đó có bà Nguyễn Thị Bình và các nhà ngoại giao khác đã củng cố lòng tin chính trị, thiết lập nên các kênh đối thoại, mà qua đó Việt Nam có thể tìm kiếm được sự hợp tác từ các nước bạn bè.
Có thể thấy, bà Nguyễn Thị Bình không chỉ là một nhà ngoại giao vĩ đại mà còn là một kiến trúc sư thầm lặng, người đã góp phần đặt những viên gạch đầu tiên cho sự phát triển của ngành dầu khí Việt Nam thông qua công tác đối ngoại. Vai trò cầu nối của bà trong việc xây dựng lòng tin, củng cố quan hệ với các nước như I-rắc, An-giê-ri, Cuba và Vê-nê-xuê-la và nhiều nước khác, được minh chứng rõ ràng qua các chuyến thăm cấp cao vào những thời điểm then chốt và mối quan hệ đặc biệt với các nguyên thủ quốc gia như Saddam Hussein, Abdelaziz Bouteflika và Fidel Castro, đã mở ra cánh cửa cho những hợp tác chiến lược, giúp Việt Nam tiếp cận nguồn lực và kinh nghiệm quý báu. Di sản của bà không chỉ nằm ở những hiệp định hòa bình mà còn ở những mối quan hệ bền chặt mà bà đã dày công vun đắp, góp phần vào sự phát triển phồn vinh của đất nước.
Đối với Petrovietnam, từ sự tín nhiệm và uy tín của bà Nguyễn Thị Bình trên trường quốc tế đã góp phần giúp Việt Nam tạo dựng được vị thế, thu hút sự quan tâm và đầu tư vào lĩnh vực dầu khí non trẻ của mình. Mặc dù không trực tiếp tham gia vào các thỏa thuận kỹ thuật dầu khí, nhưng tầm ảnh hưởng chính trị và khả năng kết nối của bà đã gián tiếp tạo ra những cơ hội quý giá cho ngành dầu khí Việt Nam. Đó là điều mà lịch sử ngành dầu khí đã ghi nhận và in đậm sâu sắc trong trái tim nhiều thế hệ lãnh đạo và cán bộ nhân viên ngành dầu khí.
Một sự kiện mà ít người còn nhớ là chính bà Nguyễn Thị Bình, năm 2000, trên cương vị Phó Chủ tịch nước, đã thay mặt Chủ tịch nước trao tặng Huân chương Hồ Chí Minh cho Tổng công ty Dầu khí (nay là Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam - Petrovietnam).
Ảnh bà Nguyễn Thị Bình chụp với tác giả bài viết tại thủ đô Alger (2009) |
Thời gian qua đi, “người đàn bà thép” của hòa đàm Paris năm nào giờ đã bước sang tuổi 99. Cầm cuốn hồi ký của bà trên tay, nhìn chữ ký nhỏ nhắn mỏng manh như chữ học trò, có phần run run do tuổi tác, lòng tôi bồi hồi xúc động khôn nguôi. Tôi nhớ mãi kỷ niệm với bà Nguyễn Thị Bình tại Đại sứ quán Việt Nam ở thủ đô Alger năm 2009, sau khi chụp ảnh chung với mọi người, bà ngồi đó trên một chiếc ghế đặt ở giữa phòng họp lớn của Đại sứ quán Việt Nam. Tôi lấy hết can đảm tới gặp bà và thưa: “Thưa bà, cho phép cháu được chụp một tấm ảnh với bà”. Bà ngước lên nhìn tôi, ánh mắt hiền từ, miệng hơi cười, hỏi nhẹ: “Cháu có thành tích gì mà xin chụp với bà?” Tôi bối rối quá. Trời ơi, làm sao tôi có thể kể thành tích nhỏ bé của mình trước một người như bà. Trước mặt tôi là một tượng đài, không, phải là một biểu tượng của cách mạng Việt Nam trong lịch sử đấu tranh giải phóng loài người mới đúng. Người phụ nữ thép, được cả thế giới gọi là “Madame Bình”, cháu ngoại của nhà chí sĩ Phan Chu Trinh, nguyên Bộ trưởng Bộ Ngoại giao của Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, người đã đặt bút ký vào bản Hiệp định Paris năm 1973 để mang lại hòa bình thống nhất cho dân tộc ta, con người của lịch sử ấy đang ngồi kia trong chiếc quần lụa màu đen và áo dài tay màu trắng, nhỏ bé như bà ngoại tôi ở nhà. Tôi chỉ có thể trả lời bà bằng một câu nói bật ra từ trái tim, chân thành và giản dị nhất: “Vì cháu hâm mộ bà!” Bà cười nhìn tôi, đưa tay ra rồi kéo tôi lại gần ghế. Đứng cạnh bà, được chụp với nhân vật lịch sử như bà chung một bức hình, sự tự hào lúc đó dâng lên khiến cho tôi cũng cảm thấy như mình được can dự vào một phần lịch sử.
Tầm vóc Nguyễn Thị Bình, vai trò của Nguyễn Thị Bình, dấu ấn của Nguyễn Thị Bình... tự mỗi người sẽ có cho mình những nhận định, nhưng xem lại tấm hình chụp cùng bà cuối năm 2009, xong nhìn xuống cuối sách, thấy dòng chữ: Viết xong cuối năm 2009, lòng tôi thấy rưng rưng. Tôi không chắc những dòng cuối cùng có phải bà viết ở biệt thự “Madame Bình” ở Alger trong chuyến thăm cuối cùng theo lời mời của người bạn thân thiết Bouteflika hay không nhưng tôi ngờ rằng không phải ngẫu nhiên lại có điều trùng hợp.
Câu cuối cùng bà viết trong hồi ký.
“Tôi thích ví đất nước ta như con thuyền. Qua bao thác ghềnh, con thuyền Tổ quốc đã ra biển cả, phía trước là chân trời mới...!”
Tôi cũng rất tin rằng, chân trời mới và một kỷ nguyên mới, nhất định sẽ đến với dân tộc ta, đất nước ta và cả Petrovietnam thân yêu của tôi nữa.
23/6/2025
Nguyễn Hùng Sơn