Tổng kim ngạch xuất nhập khẩu đạt kỷ lục 770,14 tỷ USD
Số liệu về tình hình kinh tế – xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2026 của Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho thấy hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa tiếp tục duy trì quy mô lớn. Riêng tháng 8, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 109,7 tỷ USD, giảm nhẹ 0,1% so với tháng trước nhưng tăng tới 31,7% so với cùng kỳ năm trước.
![]() |
| Hoạt động xuất nhập khẩu duy trì đà tăng trưởng đóng góp vào phát triển kinh tế 8 tháng năm 2026. |
Xuất khẩu tăng 22,4%, nhóm công nghiệp chế biến chiếm hơn 90%
Số liệu về tình hình kinh tế – xã hội tháng 8 và 8 tháng năm 2026 của Cục Thống kê (Bộ Tài chính) cho thấy hoạt động xuất, nhập khẩu hàng hóa tiếp tục duy trì quy mô lớn. Riêng tháng 8, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 109,7 tỷ USD, giảm nhẹ 0,1% so với tháng trước nhưng tăng tới 31,7% so với cùng kỳ năm trước.
Tính chung 8 tháng năm 2026, tổng kim ngạch xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt 770,14 tỷ USD, tăng 28,7% so với cùng kỳ năm trước và là mức cao nhất của 8 tháng từ trước đến nay.
So với quy mô 598,25 tỷ USD của cùng kỳ năm 2025, kết quả 8 tháng năm nay cho thấy hoạt động thương mại hàng hóa tiếp tục mở rộng mạnh. Cả hai chiều đều tăng trưởng cao, trong đó xuất khẩu tăng 22,4% và nhập khẩu tăng 35,3%.
Diễn biến này cũng tạo nên một đặc điểm đáng chú ý của thương mại hàng hóa năm nay: tốc độ tăng nhập khẩu đang cao hơn đáng kể so với xuất khẩu. Theo số liệu sơ bộ, cán cân thương mại hàng hóa 8 tháng nhập siêu 20,46 tỷ USD, trong khi cùng kỳ năm trước xuất siêu 14,02 tỷ USD.
Ở chiều xuất khẩu, kim ngạch tháng 8 đạt 54,79 tỷ USD, tăng 3,2% so với tháng trước và tăng 26,0% so với cùng kỳ năm trước.
Trong đó, khu vực kinh tế trong nước xuất khẩu 10,5 tỷ USD, tăng 2,2% so với tháng trước và tăng 14,1% so với cùng kỳ. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, kể cả dầu thô, đạt 44,29 tỷ USD, tăng 3,4% so với tháng trước và tăng 29,2% so với cùng kỳ.
![]() |
Tính chung 8 tháng năm 2026, kim ngạch xuất khẩu hàng hóa đạt 374,84 tỷ USD, tăng 22,4% so với cùng kỳ năm trước. Khu vực kinh tế trong nước đạt 74,47 tỷ USD, tăng 7,4%, chiếm 19,9% tổng kim ngạch xuất khẩu. Trong khi đó, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, kể cả dầu thô, đạt 300,37 tỷ USD, tăng 26,9% và chiếm 80,1%.
Cơ cấu này cho thấy, khu vực có vốn đầu tư nước ngoài tiếp tục giữ tỷ trọng chủ yếu và có tốc độ tăng cao hơn đáng kể so với khu vực kinh tế trong nước. Với hơn 4/5 kim ngạch xuất khẩu thuộc khu vực FDI, mức tăng 26,9% của khu vực này đóng góp quan trọng vào mức tăng chung của xuất khẩu 8 tháng.
Quy mô các mặt hàng xuất khẩu chủ lực cũng tiếp tục được mở rộng. Trong 8 tháng, có 33 mặt hàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm 93,6% tổng kim ngạch xuất khẩu. Đáng chú ý, 7 mặt hàng vượt mốc 10 tỷ USD, chiếm tới 70,0% tổng kim ngạch.
Dẫn đầu là điện tử, máy tính và linh kiện với kim ngạch 101,059 tỷ USD, tăng 51,1% so với cùng kỳ năm trước. Đây cũng là mặt hàng duy nhất trong nhóm chủ lực đạt quy mô xuất khẩu trên 100 tỷ USD trong 8 tháng.
Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 47,289 tỷ USD, tăng 26,4%; điện thoại các loại và linh kiện đạt 45,590 tỷ USD, tăng 19,4%. Ba nhóm hàng này tạo nên phần đáng kể trong kim ngạch xuất khẩu, cho thấy các sản phẩm công nghiệp và công nghệ tiếp tục giữ vai trò nổi bật trong cơ cấu hàng hóa xuất khẩu.
Các mặt hàng chủ lực khác gồm hàng dệt, may đạt 26,897 tỷ USD, tăng 1,6%; giày dép đạt 16,202 tỷ USD, tăng 0,7%; phương tiện vận tải và phụ tùng đạt 13,392 tỷ USD, tăng 16,6%; gỗ và sản phẩm gỗ đạt 11,807 tỷ USD, tăng 6,0%.
Khoảng cách về tốc độ tăng giữa các mặt hàng cũng khá rõ. Trong khi điện tử, máy tính và linh kiện tăng 51,1%, máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác tăng 26,4% thì hàng dệt, may và giày dép chỉ tăng lần lượt 1,6% và 0,7%. Điều này cho thấy mức tăng xuất khẩu đang có sự khác biệt đáng kể giữa các nhóm hàng chủ lực.
Xét về cơ cấu, hàng công nghiệp chế biến tiếp tục giữ vị trí áp đảo với kim ngạch 337,99 tỷ USD, chiếm 90,2% tổng kim ngạch xuất khẩu 8 tháng.
Nhóm hàng nông sản, lâm sản đạt 26,65 tỷ USD, chiếm 7,1%; thủy sản đạt 8,0 tỷ USD, chiếm 2,1%; nhiên liệu và khoáng sản đạt 2,2 tỷ USD, chiếm 0,6%.
Tỷ trọng 90,2% của hàng công nghiệp chế biến cho thấy kết quả xuất khẩu tiếp tục gắn chặt với hoạt động của khu vực sản xuất, chế biến, chế tạo. Đồng thời, cơ cấu xuất khẩu cũng cho thấy các nhóm hàng công nghiệp có giá trị lớn đang quyết định phần lớn quy mô thương mại hàng hóa của Việt Nam.
Nhập khẩu tăng phản ánh nhu cầu lớn về tư liệu sản xuất
Nếu xuất khẩu duy trì mức tăng cao thì nhập khẩu có tốc độ mở rộng mạnh hơn. Kim ngạch nhập khẩu tháng 8 đạt 54,91 tỷ USD, giảm 3,1% so với tháng trước nhưng tăng tới 37,9% so với cùng kỳ năm trước.
Trong tháng 8, khu vực kinh tế trong nước nhập khẩu 12,82 tỷ USD, giảm 7,1% so với tháng trước và tăng 19,7% so với cùng kỳ năm trước. Khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 42,09 tỷ USD, giảm 1,8% so với tháng trước nhưng tăng 44,6% so với cùng kỳ.
Tính chung 8 tháng năm 2026, kim ngạch nhập khẩu đạt 395,3 tỷ USD, tăng 35,3% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, khu vực kinh tế trong nước đạt 105,07 tỷ USD, tăng 23,7%; khu vực có vốn đầu tư nước ngoài đạt 290,23 tỷ USD, tăng 40,1%.
Như vậy, khu vực FDI đồng thời giữ quy mô lớn ở cả hai chiều thương mại. Đáng chú ý, nhập khẩu của khu vực này tăng 40,1%, cao hơn tốc độ tăng xuất khẩu 26,9%.
Cơ cấu hàng nhập khẩu phần nào cho thấy đặc điểm của mức tăng này. Trong 395,3 tỷ USD kim ngạch nhập khẩu 8 tháng, nhóm hàng tư liệu sản xuất đạt 372,04 tỷ USD, chiếm tới 94,1%.
Trong đó, máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng chiếm 57,6% tổng kim ngạch nhập khẩu; nguyên, nhiên, vật liệu chiếm 36,5%. Nhóm vật phẩm tiêu dùng chỉ đạt 23,26 tỷ USD, chiếm 5,9%.
Việc tư liệu sản xuất chiếm hơn 94% cơ cấu nhập khẩu cho thấy phần lớn kim ngạch nhập khẩu tập trung vào máy móc, thiết bị, nguyên, nhiên, vật liệu phục vụ hoạt động sản xuất. Đây là yếu tố cần được đặt trong tổng thể khi đánh giá mức tăng 35,3% của nhập khẩu, thay vì chỉ nhìn vào mức nhập siêu của cán cân thương mại.
Trong 8 tháng năm 2026, có 43 mặt hàng nhập khẩu đạt trị giá trên 1 tỷ USD, chiếm 93,9% tổng kim ngạch nhập khẩu; trong đó 3 mặt hàng vượt 10 tỷ USD, chiếm 55,5%.
Điện tử, máy tính và linh kiện tiếp tục đứng đầu với kim ngạch nhập khẩu 161,630 tỷ USD, tăng tới 68,3% so với cùng kỳ. Máy móc, thiết bị, dụng cụ, phụ tùng khác đạt 47,400 tỷ USD, tăng 22,1%; vải đạt 10,165 tỷ USD, tăng 2,5%.
Riêng điện tử, máy tính và linh kiện đã có quy mô nhập khẩu vượt 160 tỷ USD và tốc độ tăng 68,3%. Cùng với tỷ trọng lớn của nhóm tư liệu sản xuất, số liệu này phản ánh quy mô nhập khẩu đầu vào phục vụ hoạt động sản xuất đang tăng mạnh.
Quy mô thương mại tăng cao
Sự mở rộng của thương mại hàng hóa còn thể hiện rõ qua các thị trường chủ lực. Trong 8 tháng năm 2026, Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 122,0 tỷ USD. Trung Quốc là thị trường nhập khẩu lớn nhất với kim ngạch đạt 161,9 tỷ USD.
Cán cân thương mại với từng thị trường có sự phân hóa rõ nét. Việt Nam xuất siêu sang Hoa Kỳ 106,6 tỷ USD, tăng 22,7% so với cùng kỳ năm trước; xuất siêu sang EU 31,4 tỷ USD, tăng 22,8%; xuất siêu sang Nhật Bản 2,4 tỷ USD, tăng 58,0%.
Ở chiều ngược lại, Việt Nam nhập siêu từ Trung Quốc 107,7 tỷ USD, tăng 41,7%; nhập siêu từ Hàn Quốc 37,8 tỷ USD, tăng 89,4%; nhập siêu từ ASEAN 13,5 tỷ USD, tăng 43,4%.
Những con số này cho thấy dòng thương mại tiếp tục tập trung mạnh ở các thị trường lớn, đồng thời thể hiện sự khác biệt trong quan hệ thương mại với từng đối tác: một số thị trường giữ vai trò lớn đối với đầu ra xuất khẩu, trong khi một số thị trường khác là nguồn cung quan trọng đối với hàng hóa nhập khẩu.
Riêng tháng 8, kim ngạch xuất khẩu đạt 54,79 tỷ USD trong khi nhập khẩu đạt 54,91 tỷ USD, khiến cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 0,12 tỷ USD.
Lũy kế 8 tháng năm 2026, xuất khẩu đạt 374,84 tỷ USD nhưng nhập khẩu lên tới 395,3 tỷ USD, đưa cán cân thương mại hàng hóa nhập siêu 20,46 tỷ USD. Trong khi đó, cùng kỳ năm 2025, Việt Nam xuất siêu 14,02 tỷ USD.
Xét theo khu vực kinh tế, diễn biến cán cân thương mại tiếp tục có sự khác biệt lớn. Khu vực kinh tế trong nước nhập siêu 30,6 tỷ USD, trong khi khu vực có vốn đầu tư nước ngoài, kể cả dầu thô, xuất siêu 10,14 tỷ USD.
Một số nhóm hàng ghi nhận mức nhập siêu lớn gồm điện tử, máy tính và linh kiện 60,6 tỷ USD; xăng dầu 7,4 tỷ USD; chất dẻo 6,7 tỷ USD; than các loại 6,2 tỷ USD; dầu thô 5,3 tỷ USD; sản phẩm hóa chất 3,9 tỷ USD và hóa chất 3,9 tỷ USD.
Nhìn tổng thể, bức tranh xuất, nhập khẩu 8 tháng năm 2026 nổi bật trước hết ở sự gia tăng mạnh về quy mô khi tổng kim ngạch đạt mức cao nhất của 8 tháng từ trước đến nay. Xuất khẩu tăng 22,4% với động lực nổi bật từ nhóm hàng công nghiệp chế biến và khu vực FDI; trong khi nhập khẩu tăng 35,3%, chủ yếu là tư liệu sản xuất.
Việc nhập khẩu tăng nhanh hơn xuất khẩu đã đưa cán cân thương mại từ trạng thái xuất siêu cùng kỳ năm trước sang nhập siêu 20,46 tỷ USD trong 8 tháng năm nay. Tuy nhiên, với tư liệu sản xuất chiếm 94,1% tổng kim ngạch nhập khẩu, diễn biến nhập khẩu cần được nhìn nhận gắn với nhu cầu máy móc, thiết bị, nguyên, nhiên, vật liệu của nền kinh tế. Trong những tháng còn lại của năm, diễn biến của xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại sẽ tiếp tục phụ thuộc đáng kể vào khả năng duy trì đà tăng của các nhóm hàng xuất khẩu chủ lực cũng như nhu cầu nhập khẩu đầu vào phục vụ sản xuất.








