Sự kiện
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Văn hóa Mường: Không gian ký ức cộng đồng

Xuân đã về trên những triền đồi trung du, sương sớm còn đọng trên mái nhà sàn, khói bếp lững lờ quyện vào mây núi. Trong không gian đó, tiếng chiêng Mường cất lên vừa trầm, sâu và ngân dài, như một nhịp gọi từ ngàn xưa vọng lại. Đó không chỉ là âm thanh của lễ hội, mà là tiếng của ký ức cộng đồng - một mạch nguồn văn hóa đã chảy qua hàng chục thế kỷ.

Phóng viên TTXVN giới thiệu chùm 2 bài viết về chủ đề bảo tồn, phát huy giá trị văn hóa Mường của người dân cũng như chính quyền tỉnh Phú Thọ theo dòng chảy thời gian

Bài 1: Văn hóa Mường - Không gian ký ức cộng đồng

Mùa Xuân trên bản Mường không chỉ là mùa của ký ức mà còn là mùa của giao lưu và phát triển. Trong từng nhịp chiêng, câu hát, nghi lễ truyền thống, quá khứ và hiện tại vẫn đang hòa quyện, tạo nên sức sống bền bỉ của văn hóa Mường trong dòng chảy thời gian.

* Từ nền văn hóa Hòa Bình đến bản sắc Mường đặc sắc

Khi nhắc đến văn hóa Mường, không thể không nhắc tới Văn hóa Hòa Bình - một trong những nền văn hóa tiền sử quan trọng của nhân loại. Năm 1926, nhà khảo cổ học người Pháp Madeleine Colani cùng các cộng sự đã khảo sát hệ thống hang động đá vôi ở khu vực Tây Bắc Việt Nam và phát hiện nhiều công cụ đá ghè đẽo, di cốt cùng dấu tích cư trú của cư dân tiền sử.

Những phát hiện này sau đó đã dẫn đến việc đặt tên và công nhận “Văn hóa Hòa Bình” vào năm 1932 tại Đại hội các nhà Tiền sử Viễn Đông tổ chức ở Hà Nội. Các nhà khoa học xác định nền văn hóa này tồn tại trong khoảng từ 30.000 năm đến khoảng 3.500 năm trước Công nguyên, trở thành một trong những dấu mốc quan trọng của khảo cổ học thế giới.

Theo các tài liệu khảo cổ, vùng trung du và miền núi đá vôi Bắc Bộ là nơi con người cư trú từ rất sớm nhờ điều kiện sinh thái thuận lợi, nguồn tài nguyên phong phú từ rừng, thung lũng. Tại Việt Nam đã phát hiện hơn 130 địa điểm khảo cổ thuộc Văn hóa Hòa Bình.

Không chỉ là câu chuyện khảo cổ học, nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, cư dân Văn hóa Hòa Bình chính là tổ tiên xa xưa của cộng đồng ngôn ngữ Việt Mường. Trong dòng chảy lịch sử lâu dài, một bộ phận cư dân phát triển thành người Việt (Kinh), trong khi một bộ phận khác vẫn bảo lưu nhiều yếu tố cổ xưa hơn, hình thành nên cộng đồng Mường với những nét đặc trưng riêng về tổ chức bản mường, tín ngưỡng đa thần, nghệ thuật diễn xướng và kho tàng sử thi như “Đẻ đất đẻ nước”.

Nhà nghiên cứu văn hóa Mường, ông Bùi Huy Vọng nhận định: “Nếu coi Văn hóa Hòa Bình là tầng đá gốc, thì văn hóa Mường là lớp đất được bồi đắp qua hàng nghìn năm. Ở đó vẫn còn nguyên cấu trúc xã hội cổ truyền và hệ thống tri thức dân gian đặc sắc”.

Giữa kho tàng di sản phong phú ấy, Mo Mường được xem như “linh hồn” của đời sống tinh thần cộng đồng. Mo không đơn thuần là lời cúng trong nghi lễ, mà là một hệ thống diễn xướng truyền khẩu đồ sộ phản ánh vũ trụ quan, nhân sinh quan và lịch sử hình thành cộng đồng Mường.

Trong các nghi lễ tang truyền thống, thầy Mo có thể diễn xướng liên tục nhiều ngày đêm với hàng vạn câu thơ kể về sự hình thành vũ trụ, tổ tiên khai bản lập Mường. Nhiều nhà nghiên cứu đánh giá đây là một trong những hình thức diễn xướng sử thi dài và độc đáo còn tồn tại trong đời sống cộng đồng ở Đông Nam Á.

Mo Mường không chỉ là lời nói mà còn chứa đựng cấu trúc âm nhạc, nhịp điệu, phép lặp, phép đối cùng hệ thống triết lý dân gian sâu sắc. Mo xuất hiện trong nhiều nghi lễ như: cưới hỏi, mừng nhà mới, cầu an, cầu phúc… trở thành một phần không thể tách rời của đời sống tinh thần của đồng bào Mường.

Thầy Mo Bùi Văn Minh (Nghệ nhân Ưu tú ở vùng Mường Vang, Tân Lạc, Hòa Bình cũ) chia sẻ: “Mo là lời dặn của tổ tiên. Mỗi câu Mo đều có tích, có nghĩa. Đọc Mo là nhắc người sống nhớ đạo lý, nhớ gốc gác tổ tiên của mình”. Hiện nay, Mo Mường đã được đưa vào Danh mục Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia. Nhiều địa phương có cộng đồng người Mường sinh sống đang phối hợp với Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch xây dựng hồ sơ đề nghị UNESCO ghi danh Mo Mường vào danh sách Di sản văn hóa phi vật thể cần bảo vệ khẩn cấp.

Tuy nhiên, di sản quý giá này đang đứng trước nhiều thách thức. Số lượng thầy Mo ngày càng giảm, phần lớn đã cao tuổi; trong khi đó, lớp kế cận chưa nhiều do sự thay đổi của đời sống xã hội, quá trình đô thị hóa và ảnh hưởng của văn hóa hiện đại. Ông Lê Va, Chủ tịch Hội Văn học Nghệ thuật tỉnh Phú Thọ cho biết: “Việc bảo tồn Mo Mường không chỉ dừng ở việc ghi âm, ghi chép mà quan trọng hơn là duy trì môi trường thực hành trong cộng đồng thông qua các lễ hội, nghi thức truyền thống; đồng thời chú trọng đào tạo thế hệ kế cận. Di sản chỉ thực sự sống khi cộng đồng tiếp tục thực hành và truyền lại cho thế hệ sau”.

Giữ gìn Mo Mường vì thế không chỉ là bảo tồn một loại hình nghệ thuật dân gian, mà còn là gìn giữ “bộ nhớ tập thể” của cộng đồng người Mường, nơi lưu giữ lịch sử, tri thức và tâm linh của cả một nền văn hóa.

* Nhịp chiêng mùa Xuân, không gian ký ức cộng đồng

Nếu Mo Mường là trục tâm linh nối quá khứ với hiện tại, thì Tết và lễ hội mùa Xuân chính là không gian văn hóa sống động nhất, nơi các giá trị truyền thống được thể hiện rõ ràng và giàu cảm xúc trong đời sống người Mường. Xuân về trên bản Mường không chỉ là sự chuyển mùa của đất trời, mà còn là thời khắc tái sinh của ký ức cộng đồng, nơi con người gặp gỡ tổ tiên, gửi gắm những ước vọng cho năm mới.

Từ những ngày cuối tháng Chạp, không khí Tết đã lan tỏa khắp các bản làng, những ngôi nhà sàn được quét dọn sạch sẽ, bàn thờ tổ tiên được lau chùi trang trọng. Trước sân, cây nêu được dựng lên như dấu hiệu thiêng liêng báo hiệu thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới.

Bà Dư Thị Nguyệt (hơn 80 tuổi ở vùng Mường Thàng) vừa lau lá dong vừa kể lại: “Đối với người Mường, cây nêu không chỉ để trang trí. Nó là ranh giới giữa điều lành và điều dữ. Dựng nêu là để tổ tiên biết lối về nhà, để con cháu yên tâm đón năm mới”.

Trong những ngày Tết, phụ nữ Mường quây quần gói bánh chưng, bánh ống, làm cơm lam, những món ăn truyền thống gắn với đời sống nông nghiệp lâu đời. Bữa cơm tất niên cuối năm là dịp thiêng liêng để con cháu tưởng nhớ tổ tiên và cầu mong một năm mới bình an, no đủ.

Đêm giao thừa, tiếng chiêng Mường lại vang lên giữa núi rừng. Người dân ra mó nước đầu nguồn lấy “nước tiên” mang về đặt trên bàn thờ, cầu mong mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt.

Nhà nghiên cứu văn hóa Bùi Huy Vọng chia sẻ: “Tết của người Mường là sự kết tinh của tín ngưỡng nông nghiệp và đạo lý gia đình. Việc thờ cúng tổ tiên phản ánh cấu trúc dòng tộc bền chặt. Đây là một giá trị văn hóa cần được gìn giữ”.

Một nét văn hóa đặc sắc trong dịp Tết của người Mường là tục Sắc bùa của Phường bùa. Đây là hình thức hát chúc Xuân đi từ nhà này sang nhà khác. Phường bùa thường gồm 12 người trở lên biết đánh cồng thành thạo và hát những làn điệu dân ca dân tộc Mường chúc Tết tới gia chủ “Chúc nhà này lúa đầy bồ, trâu bò đầy chuồng, con cháu đông vui…”.

Phường bùa do một thầy thường gọi là chủ phường bùa vừa hát hay vừa có tài ứng tác dẫn đầu. Đáp lại tình cảm và thể hiện sự mến khách, gia chủ sẽ có lời mời mọi người cùng thưởng thức rượu cần và ăn bánh ngon đầu Xuân. Tiếng chiêng mùa Xuân của phường bùa vang vọng khắp bản làng, mang theo lời chúc bình an, thịnh vượng và thể hiện tinh thần gắn kết cộng đồng.

Sau những ngày Tết, vào mùng 7 tháng Giêng, nhiều vùng Mường tổ chức Lễ hội Khai hạ - nghi lễ mở đầu mùa vụ mới. Đây là một trong những lễ hội quan trọng nhất trong năm, gắn với tín ngưỡng nông nghiệp và đời sống cộng đồng. Trong lễ hội, các nghi thức tưởng nhớ thần linh và những người có công khai khẩn đất đai được tổ chức trang trọng. Bên cạnh đó là nhiều hoạt động văn hóa thể thao truyền thống như: diễn tấu chiêng Mường, ném còn, đánh khăng, đi cà kheo, hát dân ca Mường…

Lần đầu tham dự lễ hội Khai Hạ Mường Bi, chị Khánh Ly (du khách đến từ tỉnh Lào Cai) cho biết: “Tôi thực sự ấn tượng với những cô gái Mường trong trang phục truyền thống rực rỡ cùng tiếng chiêng vang vọng giữa núi rừng. Đây là một trải nghiệm mùa Xuân rất đặc biệt của tôi và gia đình”.

Theo ông Bùi Văn Khánh, nguyên Chủ tịch UBND huyện Lạc Sơn (tỉnh Hòa Bình cũ), những năm gần đây, các lễ hội truyền thống của người Mường được khôi phục và tổ chức bài bản hơn, trở thành sản phẩm văn hóa du lịch hấp dẫn. Những nét văn hóa đặc sắc của người Mường đang ngày càng được gìn giữ và phát huy, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội địa phương; đồng thời giới thiệu bản sắc văn hóa Mường tới du khách trong và ngoài nước”./.(Còn tiếp)

Lưu Trọng Đạt

(Bài cuối: Phát huy các giá trị truyền thống thành nguồn lực phát triển)


Tác giả: Bùi Thanh Hải
Nguồn:TTXVN Copy link
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết