Sự kiện
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

An Giang khơi thông nguồn lực, phát triển trung tâm kinh tế biển mạnh của quốc gia

Ngày 2/10/2026, UBND tỉnh An Giang ban hành Kế hoạch số 579/KH-UBND về xây dựng tỉnh An Giang thành tỉnh giàu mạnh từ biển, trở thành trung tâm kinh tế biển mạnh của quốc gia.

An Giang khơi thông nguồn lực, phát triển trung tâm kinh tế biển mạnh của quốc gia
Tỉnh An Giang đặt mục tiêu trở thành tỉnh giàu mạnh từ biển vào năm 2030. Ảnh minh hoạ có sự hỗ trợ của AI.

Phát huy lợi thế biển đảo, tạo động lực tăng trưởng mới

Ngày 2/10/2026, UBND tỉnh An Giang ban hành Kế hoạch số 579/KH-UBND về xây dựng tỉnh An Giang thành tỉnh giàu mạnh từ biển, trở thành trung tâm kinh tế biển mạnh của quốc gia. Kế hoạch cụ thể hóa định hướng phát triển kinh tế biển gắn với bảo vệ môi trường, bảo đảm quốc phòng, an ninh và nâng cao chất lượng cuộc sống người dân, đồng thời tạo cơ sở để khai thác hiệu quả các tiềm năng, lợi thế của địa phương.

Định hướng này phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 28/7/2026 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XIV về xây dựng và phát triển Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh và Chương trình hành động của Chính phủ tại Nghị quyết số 218/NQ-CP ngày 7/8/2026. Trong đó, phát triển kinh tế biển theo hướng hiện đại, bền vững, nâng cao hiệu quả quản trị tài nguyên và không gian biển, phát huy khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo là những yêu cầu quan trọng.

Đối với An Giang, biển đảo không chỉ là lợi thế về tài nguyên và cảnh quan mà còn mở ra không gian phát triển cho du lịch, thủy sản, năng lượng tái tạo, vận tải biển và logistics. Việc kết nối các ngành kinh tế này thành chuỗi giá trị có ý nghĩa quyết định đối với khả năng nâng cao năng suất, tạo việc làm và gia tăng đóng góp của kinh tế biển vào tăng trưởng chung của Tỉnh.

Theo kế hoạch, đến năm 2030, An Giang phấn đấu trở thành tỉnh giàu mạnh từ biển, từng bước hình thành trung tâm kinh tế biển mạnh của quốc gia. Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân được đặt mục tiêu trên 11%/năm; thu nhập bình quân đầu người đạt 1,2-1,3 lần mức bình quân cả nước. Đây là những chỉ tiêu thể hiện yêu cầu chuyển từ khai thác tiềm năng sang tạo ra giá trị kinh tế cao hơn, đồng thời bảo đảm thành quả tăng trưởng được chuyển hóa thành cải thiện đời sống người dân.

Để hiện thực hóa mục tiêu, tỉnh An Giang xác định phát triển kinh tế biển theo hướng xanh, hiện đại, thông minh, từng bước làm chủ các hoạt động kinh tế ở vùng biển xa, biển sâu và những không gian phát triển mới. Điều này đòi hỏi quy hoạch đồng bộ giữa các ngành, địa phương ven biển và hải đảo, tránh đầu tư phân tán, chồng lấn không gian hoặc khai thác tài nguyên vượt quá khả năng phục hồi của hệ sinh thái.

Một trong những hướng đi quan trọng là phát triển năng lượng tái tạo, nhất là điện gió theo quy hoạch. Khi được triển khai đồng bộ với hạ tầng truyền tải, giao thông và dịch vụ hỗ trợ, các dự án năng lượng tái tạo có thể tạo thêm động lực tăng trưởng, thu hút vốn đầu tư, phát triển công nghiệp phụ trợ và mở rộng nguồn thu cho địa phương. Tuy nhiên, tiến độ thực hiện phải gắn với khả năng giải tỏa công suất, hiệu quả kinh tế và yêu cầu bảo vệ hệ sinh thái biển.

Kinh tế hàng hải cũng được định hướng trở thành trụ cột quan trọng. An Giang sẽ phát triển hệ thống luồng, cảng, bến theo hướng xanh, thông minh, hiện đại; tăng cường các tuyến giao thông kết nối đất liền với các đảo; phát triển đội tàu vận tải hàng hóa, hành khách, cơ sở đóng và sửa chữa tàu biển cùng dịch vụ logistics hàng hải.

Việc kết nối vận tải biển với các tuyến giao thông đường bộ và mạng lưới cung ứng quốc gia sẽ giúp giảm chi phí lưu thông, nâng cao năng lực vận chuyển hàng hóa và hỗ trợ hoạt động xuất nhập khẩu. Để phát huy hiệu quả, tỉnh cần ưu tiên các công trình có khả năng kết nối thực chất với vùng sản xuất, khu dịch vụ, điểm du lịch và thị trường tiêu thụ, đồng thời huy động nguồn lực xã hội theo nguyên tắc công khai, minh bạch, phân bổ vốn theo hiệu quả và nhu cầu thực tế.

Bên cạnh đó, du lịch biển đảo cũng được xác định là ngành kinh tế mũi nhọn, với mục tiêu tăng trưởng tổng thu du lịch bình quân 10,3%, trong đó du lịch biển đảo chiếm 80%. Tỉnh định hướng phát triển các trung tâm, cụm du lịch quy mô lớn tại Hà Tiên, Kiên Lương, Kiên Hải, đồng thời xây dựng Phú Quốc trở thành trung tâm du lịch mang tầm quốc tế.

Để đạt mục tiêu, yêu cầu đặt ra không chỉ là gia tăng lượng khách mà còn phải nâng mức chi tiêu, kéo dài thời gian lưu trú và tăng tỷ lệ giá trị được giữ lại trong nền kinh tế địa phương. Phát triển sản phẩm du lịch chất lượng cao, kết nối các điểm đến, nâng cấp hạ tầng giao thông, cơ sở lưu trú và dịch vụ hỗ trợ sẽ góp phần tạo sức cạnh tranh. Song song với đó, việc bảo tồn các giá trị văn hóa biển đảo và kiểm soát sức tải môi trường cần được coi là điều kiện nền tảng cho tăng trưởng lâu dài.

Về lĩnh vực thủy sản, An Giang đặt mục tiêu tổng sản lượng nuôi trồng đến năm 2030 đạt khoảng 414.540 tấn, gồm 157.280 tấn tôm nước lợ, 32.080 tấn cua biển và khoảng 207.180 tấn nuôi biển, trong đó có nhuyễn thể và cá lồng bè. Quy mô sản xuất này đòi hỏi tổ chức lại chuỗi nuôi trồng, thu hoạch, bảo quản, chế biến và tiêu thụ theo hướng chuyên nghiệp, tăng ứng dụng công nghệ cao và nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc.

Tỉnh cũng định hướng giảm khai thác ven bờ, đẩy mạnh khai thác xa bờ, phát triển nuôi biển theo hướng hàng hóa, hiện đại, thân thiện với môi trường và ưu tiên nuôi biển xa bờ. Cùng với đó là tháo gỡ khó khăn trong phòng, chống khai thác hải sản bất hợp pháp, không báo cáo và không theo quy định (IUU), tăng cường kiểm soát hoạt động khai thác, quản lý nghề cá và truy xuất nguồn gốc. Đây là điều kiện để nâng cao chất lượng sản phẩm, đáp ứng yêu cầu của thị trường và bảo đảm khai thác nguồn lợi thủy sản bền vững.

Hoàn thiện quản trị biển, huy động nguồn lực cho phát triển bền vững

Cùng với phát triển các ngành kinh tế chủ lực, An Giang xác định quản trị không gian biển, bảo vệ môi trường và bảo tồn đa dạng sinh học là những nhiệm vụ xuyên suốt. Tỉnh phấn đấu hoàn thành phân vùng chức năng biển cho từng ngành, lĩnh vực và địa phương; điều chỉnh diện tích Khu Bảo tồn biển Phú Quốc; thành lập mới các khu bảo tồn biển Thổ Châu, Nam Du - Hòn Sơn, Hải Tặc.

Quản lý không gian biển theo chức năng sẽ tạo cơ sở để xác định khu vực ưu tiên phát triển du lịch, nuôi trồng thủy sản, năng lượng và các hoạt động kinh tế khác, đồng thời bảo vệ những vùng sinh thái nhạy cảm. Khi quy hoạch được thực hiện đồng bộ, các dự án đầu tư sẽ có căn cứ rõ ràng hơn để lựa chọn địa điểm, đánh giá tác động môi trường và hạn chế xung đột giữa các mục đích sử dụng biển.

An Giang đặt mục tiêu 100% khu công nghiệp, khu đô thị và cụm công nghiệp - dịch vụ - đô thị biển có hệ thống xử lý nước thải đạt quy chuẩn; 100% rác thải nhựa ven biển được thu gom, xử lý. Tỉnh đồng thời hướng tới số hóa 100% di sản văn hoá biển của Tỉnh và nâng chỉ số phát triển con người lên từ 0,75 trở lên. Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 79%, trong đó, tỷ lệ lao động qua đào tạo có văn bằng, chứng chỉ đạt 35% (trong đó, tỉ lệ lao động trong các ngành, nghề, lĩnh vực biển đạt trên 45%).

Kế hoạch số 579/KH-UBND cho thấy An Giang phát triển kinh tế biển không chỉ đo bằng tốc độ tăng trưởng hay quy mô đầu tư mà còn là những chỉ tiêu quan trong về chất lượng môi trường, mức độ bảo tồn tài nguyên, khả năng tiếp cận dịch vụ và cơ hội sinh kế của cộng đồng. Do đó, đầu tư cho hệ thống xử lý nước thải, thu gom chất thải, phục hồi hệ sinh thái và bảo tồn di sản được tính toán ngay từ khâu quy hoạch.

Để tạo nền tảng thực hiện các mục tiêu, tỉnh An Giang đề ra 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm, tập trung vào đổi mới tư duy về phát triển quốc gia biển mạnh; hoàn thiện thể chế, đổi mới quy hoạch không gian biển; huy động, sử dụng hiệu quả nguồn lực; thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Huy động, phát huy và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; phát triển mạnh doanh nghiệp biển, nhất là các tập đoàn, tổng công ty quy mô lớn. ây dựng văn hóa biển, nâng cao đời sống người dân, phát huy sức mạnh cộng đồng cư dân biển trong xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Đồng thời, bảo đảm quốc phòng, an ninh, an toàn trên biển, đảo; tăng cường hội nhập và hợp tác quốc tế. Bảo vệ môi trường, bảo tồn hệ sinh thái biển; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu; nâng cao khả năng chống chịu của các địa phương ven biển, hải đảo

Về thể chế, tỉnh An Giang sẽ rà soát, đề xuất hoàn thiện hệ thống pháp luật về biển, hải đảo và các lĩnh vực liên quan như đất đai, môi trường, khoa học và công nghệ; cập nhật, điều chỉnh quy hoạch không gian biển quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 phù hợp với yêu cầu phát triển các ngành kinh tế biển có tiềm năng. Triển khai thực hiện các dự án lấn biển trên cơ sở quy hoạch, bảo đảm hài hoà giữa phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh, bảo vệ môi trường, hệ sinh thái biển, ứng phó với biến đổi khí hậu

Trong huy động nguồn lực, yêu cầu quan trọng là kết hợp ngân sách nhà nước với vốn doanh nghiệp và các nguồn vốn hợp pháp khác, ưu tiên đầu tư hạ tầng có tính kết nối, khả năng lan tỏa và tạo điều kiện thu hút đầu tư tư nhân. Việc phân kỳ dự án theo mức độ cấp thiết, chuẩn bị đầy đủ thủ tục đầu tư và nâng cao chất lượng quản lý sẽ góp phần hạn chế dàn trải, giảm nguy cơ lãng phí và tăng hiệu quả sử dụng vốn. Khoa học, công nghệ và chuyển đổi số cần được ứng dụng trong quan trắc môi trường, quản lý nghề cá, giám sát không gian biển, truy xuất nguồn gốc thủy sản và quảng bá du lịch...

Triển khai hiệu quả Kế hoạch số 579/KH-UBND trên cơ sở các định hướng tại Nghị quyết số 20-NQ/TW và Nghị quyết số 218/NQ-CP sẽ tạo cơ sở để An Giang phát huy lợi thế biển đảo, mở rộng không gian tăng trưởng và nâng cao chất lượng phát triển. Khi các ngành kinh tế biển được kết nối trong một chiến lược thống nhất, nguồn lực được sử dụng hiệu quả và môi trường được bảo vệ, mục tiêu xây dựng An Giang giàu mạnh từ biển, từng bước trở thành trung tâm kinh tế biển mạnh của quốc gia sẽ có nền tảng vững chắc hơn.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết