Nhu cầu vốn tăng trên diện rộng, room tín dụng phân bổ chặt chẽ
Bức tranh tín dụng đầu năm 2026 cho thấy sự chuyển trạng thái rõ nét từ “tăng mạnh về lượng” sang “chọn lọc về chất”, trong bối cảnh Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đặt mục tiêu tăng trưởng tín dụng toàn hệ thống khoảng 15% cho cả năm – thấp hơn đáng kể so với mức thực tế hơn 19% của năm 2025.
![]() |
| Ảnh minh hoạ: ST |
Ưu tiên doanh nghiệp, thận trọng hơn khi cho vay
Theo khảo sát của NHNN cách đây không lâu, trong 6 tháng đầu năm 2026 và cả năm 2026, nhu cầu tín dụng được kỳ vọng “tăng” đối với tất cả lĩnh vực, đối tượng, loại tiền và kỳ hạn.
Trong đó nhu cầu tín dụng của khách hàng doanh nghiệp được dự kiến “tăng” cao hơn so với khách hàng cá nhân; nhu cầu tín dụng của các khoản vay ngắn hạn được dự báo “tăng” cao hơn so với khoản vay trung và dài hạn, nhu cầu vay vốn VNĐ tiếp tục được dự báo “tăng” cao hơn nhu cầu vay vốn ngoại tệ.
Xu hướng “nới lỏng” nhẹ tiêu chuẩn tín dụng được các tổ chức tín dụng dự kiến tiếp tục diễn ra trong 6 tháng đầu năm và cả năm 2026, áp dụng đối với nhóm khách hàng doanh nghiệp và hầu hết các lĩnh vực, ngành nghề ưu tiên gồm “Tín dụng xanh”, “Công nghiệp chế biến chế tạo”, “Đầu tư ứng dụng công nghệ cao và công nghiệp hỗ trợ”, “Phát triển nông, lâm, thủy sản", “Kinh doanh xuất nhập khẩu” và các lĩnh vực khác như: “Mua nhà ở, thuê, thuê mua nhà ở”, “Đầu tư ngành vận tải, kho bãi (bao gồm dịch vụ logistic)”…
Tuy nhiên, tháng đầu năm 2026 vẫn ghi nhận mức tăng trưởng tín dụng ở ngưỡng thấp, phù hợp với quy luật nhiều năm. Theo báo cáo thông tin kinh tế - tài chính - tiền tệ mới đây của Hiệp hội Ngân hàng Việt Nam (VNBA), nguyên nhân chủ yếu đến từ yếu tố chu kỳ: hoạt động sản xuất – kinh doanh mới khởi động sau kỳ nghỉ Tết, đồng thời các ngân hàng thường thận trọng hơn trước khi triển khai cho vay quy mô lớn.
Thực tế, nền tín dụng cuối năm 2025 ở mức rất cao. Dư nợ toàn hệ thống tăng khoảng 17,87% so với đầu năm và khoảng 19,4% so với cùng kỳ 2024, đưa tổng dư nợ lên xấp xỉ 18,4 triệu tỷ đồng. VNBA cho rằng, đây là một trong những năm có tốc độ tăng trưởng tín dụng mạnh nhất trong nhiều năm gần đây, tạo nguồn lực vốn lớn cho sản xuất và đầu tư nhưng đồng thời cũng đặt ra yêu cầu kiểm soát rủi ro chặt chẽ hơn trong năm kế tiếp.
Theo báo cáo của VNBA, NHNN đã điều chỉnh chiến lược điều hành theo hướng cân bằng giữa hỗ trợ tăng trưởng và kiểm soát rủi ro hệ thống. Mục tiêu tăng trưởng tín dụng năm 2026 khoảng 15%, được phân bổ linh hoạt theo diễn biến vĩ mô và kiểm soát lạm phát.
Theo công thức giao chỉ tiêu được NHNN ban hành, hạn mức tăng trưởng của từng tổ chức tín dụng phụ thuộc vào điểm xếp hạng năm 2024, quy mô dư nợ cuối năm 2025 và phần dư nợ vượt chỉ tiêu (nếu có). Đồng thời, NHNN yêu cầu kiểm soát tốc độ tăng tín dụng trong 3 tháng đầu năm không vượt quá 25% chỉ tiêu cả năm. Điều này cho thấy định hướng “không tăng nóng từ đầu năm” nhằm tránh rủi ro tích tụ.
![]() |
| Nguồn: VNBA |
Đây cũng là tinh thần được nêu trong Công điện số 12/CĐ-TTg ngày 08/02/2026 của Thủ tướng Chính phủ về điều hành chính sách tiền tệ – tài khóa năm 2026.
Công điện yêu cầu NHNN điều hành tín dụng ở mức phù hợp, công khai, minh bạch; tăng cường thanh tra, kiểm soát rủi ro; chỉ đạo các tổ chức tín dụng tăng trưởng an toàn, hiệu quả; nghiên cứu giải pháp tín dụng hỗ trợ sản xuất – kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ kinh doanh và nhà ở an sinh xã hội.
Tránh tăng nóng nhưng cần chia sẻ rủi ro
| Quan điểm điều hành tín dụng của NHNN trong năm 2026 nhấn mạnh hỗ trợ tăng trưởng kinh tế trong khi kiểm soát rủi ro, đảm bảo an toàn hệ thống; theo đó, tăng trưởng tín dụng được phân bổ linh hoạt theo diễn biến thị trường, chú trọng các ngành sản xuất vật chất và hạn chế mở rộng tín dụng vào các lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro cao như bất động sản. |
Thông tin từ VNBA cho hay, dù dữ liệu chi tiết từng ngành như xuất khẩu, công nghiệp hỗ trợ hoặc doanh nghiệp công nghệ cao theo tháng 01/2026 chưa được NHNN công bố riêng trong tháng đầu năm nhưng theo các báo cáo phân tích, tín dụng cho các phân khúc ưu tiên thường tăng nhanh hơn mức trung bình khi chính sách tín dụng được điều chỉnh theo từng giai đoạn nhằm hỗ trợ sản xuất – kinh doanh.
Về cơ cấu tín dụng theo thời gian, dư nợ tín dụng toàn nền kinh tế thường tập trung ở các khoản vay trung và dài hạn cho sản xuất, xây dựng cơ bản, bất động sản và dịch vụ thương mại.
VNBA đánh giá, thị trường tín dụng đầu năm 2026 phản ánh sự thận trọng hơn trong việc phân bổ vốn ngay từ đầu năm, nhằm tránh tăng nóng và giảm thiểu rủi ro nợ xấu khi mặt bằng lãi suất và thanh khoản có biến động. Tiếp tục xu hướng trong năm 2025, đầu năm 2026 cho thấy nhiều ngân hàng thương mại tăng cường cho vay đối với các khách hàng sản xuất – kinh doanh, doanh nghiệp nhỏ và vừa, cũng như các chương trình hỗ trợ sau thiên tai và chương trình kết nối ngân hàng – doanh nghiệp, đồng thời áp dụng các gói lãi suất ưu đãi để kích cầu.
Ở góc nhìn chuyên gia, PGS.TS Nguyễn Hữu Huân – Trưởng bộ môn Thị trường tài chính, Khoa Ngân hàng, Trường Đại học Kinh tế TP. Hồ Chí Minh cho hay, hệ thống tín dụng ngân hàng vẫn là kênh cung vốn chủ lực cho nền kinh tế, song chưa được thiết kế tối ưu cho các dự án hạ tầng có vòng đời dài và rủi ro chính sách cao.
Theo ông Huân, phần lớn ngân hàng thương mại bị ràng buộc bởi giới hạn an toàn vốn, chênh lệch kỳ hạn huy động – cho vay và chuẩn mực quản trị rủi ro, nên khó có thể “đi đường dài” với các dự án hạ tầng hàng chục năm. Điều này khiến tín dụng dù tăng nhưng chưa thực sự chảy mạnh vào hạ tầng giao thông, logistics, năng lượng hay đô thị quy mô lớn.
Ông cũng cho rằng điểm nghẽn lớn nằm ở cơ chế phân bổ và chia sẻ rủi ro. Khi rủi ro pháp lý, rủi ro doanh thu hoặc rủi ro điều chỉnh chính sách chưa được phân định rõ giữa Nhà nước – nhà đầu tư – tổ chức tín dụng, ngân hàng buộc phải thận trọng, dù dự án có ý nghĩa chiến lược.
Có thể thấy, tín dụng cần được định vị như công cụ dẫn dắt cơ cấu kinh tế, với các “hành lang ưu tiên” rõ ràng cho hạ tầng, công nghiệp nền tảng, logistics, công nghệ cao và chuyển đổi xanh. Việc phân bổ “room tín dụng” theo chất lượng, theo lĩnh vực ưu tiên sẽ giúp mỗi đồng vốn tạo giá trị gia tăng lớn hơn, thay vì chỉ kích cầu ngắn hạn.
Bên cạnh đó, theo các chuyên gia, việc chuyển mạnh từ tư duy “tài sản bảo đảm” sang đánh giá dòng tiền và hiệu quả kinh tế – xã hội của dự án, kết hợp với ứng dụng công nghệ số, dữ liệu lớn trong thẩm định và giám sát, được xem là điều kiện quan trọng để nâng cao chất lượng tín dụng.







