|
  • :
  • :
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Sửa Luật Dầu khí để có danh mục năng lượng quốc gia cân bằng từ nền tảng ngành

Theo TS Bùi Trọng Vinh, dự thảo Luật Dầu khí 2022 (sửa đổi) cần được hoàn thiện theo hướng mở rộng phạm vi điều chỉnh từ khai thác dầu khí truyền thống sang các hoạt động năng lượng ngoài khơi gắn với hạ tầng dầu khí hiện hữu.

Sửa Luật Dầu khí để có danh mục năng lượng quốc gia cân bằng từ nền tảng ngành
Giá trị của ngành dầu khí không chỉ nằm ở sản lượng dầu và khí khai thác. Đây còn là nền tảng hình thành hệ thống hạ tầng ngoài khơi.

Những diễn biến căng thẳng kéo dài tại Trung Đông một lần nữa cho thấy an ninh năng lượng không còn là câu chuyện của riêng thị trường, mà đã trở thành một vấn đề an ninh quốc gia.

Trao đổi với PetroTimes, TS Bùi Trọng Vinh, Viện trưởng Viện Nghiên cứu Năng lượng bền vững, nguyên Trưởng Khoa Kỹ thuật Địa chất và Dầu khí, Trường Đại học Bách khoa - Đại học Quốc gia TP Hồ Chí Minh phân tích, eo biển Hormuz hiện vẫn là một trong những điểm nghẽn năng lượng lớn nhất thế giới.

Theo Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA), trong năm 2025, khoảng 20 triệu thùng dầu thô và sản phẩm dầu mỗi ngày đi qua khu vực này, tương đương khoảng 25% lượng dầu vận chuyển bằng đường biển trên toàn cầu. Vì vậy, bất kỳ bất ổn nào tại Trung Đông cũng có thể nhanh chóng tác động đến giá dầu, LNG, chi phí vận tải, lạm phát và chuỗi cung ứng toàn cầu.

Từ thực tế đó, TS Bùi Trọng Vinh cho rằng, bài học đối với Việt Nam là phải xây dựng an ninh năng lượng theo hướng đa nguồn, đa tuyến, đa công nghệ và có khả năng chống chịu cao. Việt Nam không thể phụ thuộc quá lớn vào nhập khẩu, nhưng cũng không thể chỉ dựa vào một loại hình năng lượng duy nhất.

Theo ông, bên cạnh việc duy trì khai thác dầu khí trong nước, Việt Nam cần đồng thời phát triển LNG, năng lượng tái tạo, điện gió ngoài khơi, hệ thống lưu trữ năng lượng, kho dự trữ chiến lược, hiện đại hóa lưới truyền tải và nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng.

TS Bùi Trọng Vinh đặc biệt nhấn mạnh kinh nghiệm của Nhật Bản và Hàn Quốc - hai quốc gia gần như không có nhiều tài nguyên dầu khí nhưng vẫn duy trì được mức độ an ninh năng lượng thuộc nhóm cao trên thế giới.

Sau các cú sốc dầu mỏ những năm 1970, Nhật Bản đã xây dựng chiến lược đa dạng hóa nguồn cung, phát triển điện hạt nhân, năng lượng tái tạo, tăng hiệu quả sử dụng năng lượng và duy trì hệ thống dự trữ dầu chiến lược quy mô lớn, đủ đáp ứng nhu cầu tiêu dùng trong nhiều tháng khi xảy ra khủng hoảng nguồn cung.

Trong khi đó, Hàn Quốc cũng đầu tư mạnh vào các kho dự trữ dầu và LNG, đồng thời thúc đẩy điện mặt trời, điện gió ngoài khơi, hệ thống pin lưu trữ năng lượng (BESS), hydrogen và lưới điện thông minh.

Sửa Luật Dầu khí để có danh mục năng lượng quốc gia cân bằng từ nền tảng ngành
TS Bùi Trọng Vinh: Dự thảo Luật Dầu khí 2022 (sửa đổi) cần được hoàn thiện theo hướng mở rộng phạm vi điều chỉnh từ khai thác dầu khí truyền thống sang các hoạt động năng lượng ngoài khơi gắn với hạ tầng dầu khí hiện hữu.

"Điểm chung của hai quốc gia này là không phụ thuộc vào một nguồn năng lượng duy nhất mà xây dựng danh mục năng lượng đa dạngđể tăng khả năng chống chịu trước các biến động địa chính trị toàn cầu. Đây là hướng đi Việt Nam cần tham khảo", ông nhận định.

Trong bối cảnh chuỗi cung ứng năng lượng toàn cầu ngày càng dễ bị gián đoạn, việc khai thác hiệu quả các nguồn tài nguyên trong nước có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Nếu phụ thuộc quá lớn vào nhập khẩu, nền kinh tế sẽ dễ tổn thương trước các cú sốc về giá dầu, khí, LNG hay than, kéo theo tác động lan tỏa tới chi phí sản xuất, vận tải, xuất khẩu, lạm phát và sức cạnh tranh của doanh nghiệp.

Ông cũng cho rằng, đẩy mạnh khai thác tài nguyên trong nước không đồng nghĩa với việc đi ngược xu hướng chuyển dịch năng lượng xanh. Ngược lại, đây là điều kiện cần để quá trình chuyển dịch diễn ra an toàn, có lộ trình và không gây đứt gãy nguồn cung. Dầu khí trong nước, nếu được khai thác hợp lý, tận thu hiệu quả và gắn với các công nghệ giảm phát thải, vẫn sẽ là trụ cột quan trọng trong giai đoạn chuyển tiếp.

Theo TS Bùi Trọng Vinh, giá trị của ngành dầu khí không chỉ nằm ở sản lượng dầu và khí khai thác. Đây còn là nền tảng hình thành hệ thống hạ tầng ngoài khơi, đội ngũ kỹ sư chất lượng cao, công nghệ khảo sát - khoan - khai thác biển, chuỗi dịch vụ kỹ thuật và công nghiệp hỗ trợ. Chính những nền tảng này sẽ tạo điều kiện để Việt Nam phát triển các ngành năng lượng mới trong tương lai.

Từ nền tảng của ngành dầu khí, Việt Nam có thể từng bước hình thành một danh mục năng lượng quốc gia cân bằng, trong đó dầu khí tiếp tục giữ vai trò bảo đảm an ninh năng lượng; LNG là nguồn điện chuyển tiếp; cùng với điện gió ngoài khơi, điện sóng, điện thủy triều, hydrogen xanh, amoniac xanh, hệ thống pin lưu trữ năng lượng (BESS), thủy điện tích năng, kho dự trữ năng lượng chiến lược, công nghệ thu giữ và lưu trữ carbon (CCUS) tại các bể trầm tích ngoài khơi.

"Nếu xây dựng thành công mô hình danh mục năng lượng quốc gia cân bằng, Việt Nam không chỉ nâng cao khả năng tự chủ năng lượng mà còn có cơ hội trở thành trung tâm năng lượng sạch của Đông Nam Á", TS Bùi Trọng Vinh nhấn mạnh.

Do đó, TS Bùi Trọng Vinh cho rằng, để hiện thực hóa mô hình "danh mục năng lượng quốc gia cân bằng", điều quan trọng không chỉ là quy hoạch mà còn phải có một khuôn khổ pháp lý đủ rộng để ngành dầu khí phát huy vai trò nền tảng trong quá trình chuyển dịch năng lượng.

Ông cho rằng dự thảo Luật Dầu khí 2022 (sửa đổi) cần được hoàn thiện theo hướng mở rộng phạm vi điều chỉnh từ khai thác dầu khí truyền thống sang các hoạt động năng lượng ngoài khơi gắn với hạ tầng dầu khí hiện hữu. Trong đó, cần có cơ chế khuyến khích tận dụng các mỏ dầu khí suy giảm để phát triển các dự án thu giữ và lưu trữ carbon (CCUS), hydrogen, amoniac xanh, cũng như kết hợp khai thác dầu khí với điện gió ngoài khơi nhằm tối ưu hạ tầng và giảm chi phí đầu tư.

Bên cạnh đó, luật cần tạo cơ chế để các doanh nghiệp dầu khí được chủ động đầu tư, liên doanh, liên kết trong các lĩnh vực năng lượng mới, thay vì chỉ giới hạn ở hoạt động tìm kiếm, thăm dò và khai thác dầu khí. Việc cho phép tận dụng hạ tầng biển, hệ thống đường ống, cảng chuyên dụng, kho chứa và năng lực kỹ thuật đã được tích lũy nhiều năm sẽ giúp rút ngắn thời gian triển khai các dự án, đồng thời nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực quốc gia.

Phương Thảo

 


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết