|
  • :
  • :
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Khi lòng đất không phụ lòng người!

Đúng 40 năm trước, vào mùa hè năm 1986, từ giàn MSP-1 - giàn khoan cố định đầu tiên của Việt Nam trên thềm lục địa phía Nam - tấn dầu thô đầu tiên được khai thác.

Khi lòng đất không phụ lòng người!
Sau 40 năm, giàn MSP-1- giàn khoan cố định đầu tiên của Việt Nam - nơi khai thác tấn dầu thô đầu tiên năm 1986 vẫn hoạt động hiệu quả (ảnh: Vương Thái)

Đó không chỉ là tấn dầu đầu tiên của Tập đoàn Công nghiệp - Năng lượng Quốc gia Việt Nam (Petrovietnam)/Liên doanh Vietsovpetro, mà còn là lần đầu tiên Việt Nam trực tiếp khai thác được dầu thô từ chính vùng biển của mình.

40 năm đã trôi qua, mốc thời gian 26-6-1986 vẫn được nhắc lại như một cột mốc khởi đầu của ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam. Nhưng với những người đã đứng trên giàn khoan số 1 - giàn MSP-1 ngày hôm đó, ký ức về tấn dầu đầu tiên không lùi xa trong lịch sử. Nó vẫn còn nguyên cảm giác như vừa mới đây: mùi dầu thô trong gió biển, tiếng sóng vỗ dưới chân giàn và khoảnh khắc lặng đi của những con người đã nỗ lực và chờ đợi suốt hàng chục năm.

Trong ký ức ấy, ông Trần Văn Hồi (tên thường gọi là Trần Hồi), nguyên cán bộ, nhà Địa chất của Liên doanh Vietsovpetro, là một nhân chứng đặc biệt. Không chỉ có mặt khi tấn dầu đầu tiên được khai thác, ông còn đi gần như trọn vẹn hành trình tìm kiếm, khoan thăm dò và khai thác dầu khí của Việt Nam từ năm 1975 - một hành trình dài, nhiều thử thách với ngành Dầu khí non trẻ Việt Nam (thành lập ngày 3-9-1975).

Một quyết định dũng cảm trên thềm lục địa

Khi nói về tấn dầu đầu tiên, ông Trần Hồi nhắc lại thời điểm theo ông là “then chốt nhất”, đó là quyết định đưa mỏ Bạch Hổ vào khai thác sớm của Chính phủ và ngành dầu khí khi đó (Tổng cục Dầu mỏ và Khí đốt). Khai thác sớm không phải là công nghệ xa lạ trên thế giới. Nhưng với các mỏ ngoài khơi, đây là lựa chọn rất ít được áp dụng bởi chi phí khai thác trên biển cao gấp khoảng 10 lần so với đất liền, rủi ro lớn, yêu cầu kỹ thuật khắt khe. Đặt trong bối cảnh Việt Nam giai đoạn 1979-1986 với lạm phát ba con số, nền kinh tế kiệt quệ, đất nước bị bao vây cấm vận, xung đột ở biên giới phía Bắc và Tây Nam..., để quyết định ấy được đưa ra cần một tầm nhìn, lòng dũng cảm và sự quyết đoán.

“Nhưng quyết định đó hoàn toàn đúng đắn”, ông Hồi nói bằng giọng của người trong nghề. “Và chính nhờ quyết định đó mà giếng khoan số 1 trên giàn MSP-1 được đưa vào khai thác vào ngày 26-6-1986, chỉ đúng 2 năm, 1 tháng, 2 ngày kể từ khi phát hiện dầu khí ngày 24-5-1984”.

Với những người trong ngành, tính đúng đắn ấy thể hiện rất rõ ở nhiều khía cạnh. Trước hết, nó đáp ứng yêu cầu sống còn của đất nước: sớm có nguồn ngoại tệ để phục hồi kinh tế trong giai đoạn khó khăn nhất. Đây còn là nguồn động viên tinh thần to lớn, củng cố niềm tin của người Việt Nam về tiềm năng tài nguyên dầu khí trên thềm lục địa rộng lớn của mình.

Có một sự trùng hợp mang ý nghĩa lịch sử sâu sắc đó là năm 1986 cũng chính là năm Đại hội VI của Đảng khởi xướng công cuộc Đổi Mới đất nước. Dòng dầu đầu tiên xuất hiện đúng vào thời điểm đất nước bắt đầu tìm kiếm một con đường phát triển - đổi mới.

Những năm sau đó, các con số đã chứng minh rõ vai trò của dầu khí. Năm 1991, khi tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam chỉ khoảng 2 tỉ USD, riêng dầu thô của Vietsovpetro đã đóng góp gần 600 triệu USD, chiếm xấp xỉ 30%. Trong nhiều năm liền, dầu khí đóng góp 10-30% ngân sách Nhà nước, trong đó, năm 2006 lên tới 30%. Hiện nay, ngay cả khi các ngành khác phát triển mạnh, dầu khí vẫn duy trì tỷ trọng khoảng 10% GDP và ngân sách, góp phần quan trọng cho ổn định kinh tế vĩ mô.

Nhưng với ông Trần Hồi, giá trị lớn nhất của việc khai thác sớm tấn dầu đầu tiên không chỉ nằm ở những con số đó... “Điều quan trọng hơn cả là lần đầu tiên người Việt Nam thực sự làm chủ các hoạt động dầu khí ngoài khơi”, ông nhấn mạnh. Việc đưa mỏ Bạch Hổ vào khai thác sớm đã kích hoạt đồng thời toàn bộ chuỗi công việc ngoài biển: khoan, chế tạo và xây lắp chân đế, lắp đặt giàn, thi công đường ống, vận hành khai thác. Tất cả đều được triển khai với sự tham gia trực tiếp của người Việt Nam, dưới sự hỗ trợ rất tận tình, “cầm tay chỉ việc” của các chuyên gia Liên Xô.

Nếu thuê trọn gói giàn khoan di dộng và thiết bị nước ngoài, người Việt Nam sẽ chỉ đứng ngoài giám sát quá trình ấy. Nhưng khi tự xây dựng giàn cố định, tự lắp đặt, tự vận hành khai thác, đội ngũ kỹ sư, công nhân Việt Nam đã trưởng thành rất nhanh, từng bước làm chủ công nghệ và chủ động trong mọi tình huống, kể cả trong điều kiện bị cấm vận. Lợi ích lớn lao này thật sự không thể tính được bằng tiền.

Từ nền tảng này, một lực lượng dầu khí hùng hậu đã hình thành, không chỉ trong Vietsovpetro mà còn lan tỏa sang các lĩnh vực khoan, khí, xây lắp, dịch vụ dầu khí, tạo nên diện mạo của ngành công nghiệp dầu khí Việt Nam ngày nay.

Hàng chục giếng khoan... chỉ có nước

Ông Trần Hồi về nước tháng 5-1975, đúng thời điểm đất nước vừa thống nhất. Khóa sinh viên học tại Bulgaria từ năm 1968 của ông cũng tốt nghiệp vào năm ấy. Ông coi đó như một sự sắp đặt của số phận: 50 năm Petrovietnam cũng là 50 năm kể từ ngày ông và các bạn tạm biệt đất nước hoa hồng trở về, bước vào con đường tìm dầu đầy gian nan.

Ngay sau khi về nước, ông được phân công về Liên đoàn 36 (sau này là Công ty Dầu khí 1), đơn vị phụ trách khoan tìm kiếm dầu khí trên đất liền ở miền Bắc. 2 năm đầu, ông làm việc trong đội thử vỉa - lực lượng chuyên nghiên cứu các tầng chứa, bắn vỉa để gọi dòng, xác định áp suất và thành phần chất lưu: có thể là nước, khí hoặc dầu.

Khi lòng đất không phụ lòng người!
Giàn trưởng Lê Huy Tâm (thứ hai từ phải sang) và CBCNV tại giếng đầu tiên trên giàn MSP-1

Từ năm 1977-1984, ông lần lượt công tác tại phòng Địa chất, đảm nhiệm các vị trí từ cán bộ chuyên môn, Phó phòng, Trưởng phòng Địa chất, đến Phó Giám đốc phụ trách địa chất của Công ty Dầu khí 1.

27 giếng khoan sâu ở Đồng bằng sông Hồng, 2 giếng ở Đồng bằng sông Cửu Long, trong đó có cả những giếng khoan trên cồn cát biển ven bờ trong điều kiện chiến tranh phá hoại. Nhưng chỉ có một phát hiện khí ngưng tụ nhỏ (mỏ Tiền Hải C. Kết quả chủ yếu chỉ là nước hoặc có ít dầu không có khả năng khai thác thương mại. “Khoan gần 30 giếng liền mà không có dầu, cảm giác nó nặng lắm”, ông nhớ lại. “Phải là người trong cuộc mới hiểu được”...!

Chính vì thế, khi chứng kiến dòng dầu tự phun lên từ giàn MSP-1 và được đưa ngay vào khai thác, cảm xúc của những người làm dầu khí lúc đó không phải là hò reo mà đó là lặng đi. Cái lặng của những người đã qua mấy chục năm chờ đợi, dồn nén.

“Cảm xúc ấy thật khó diễn tả bằng lời”, ông Trần Hồi chậm rãi nói. Rồi ông đọc lại cho chúng tôi nghe bài thơ “Ngọn lửa ngang” của nhà thơ Lê Huy Mậu - người trực tiếp chứng kiến khoảnh khắc lịch sử ấy - bởi như ông bảo, có những điều chỉ nhà thơ, người ngoài cuộc, bằng quan sát và trực giác nhạy bén mới nói hộ được cho người dầu khí.

“Thật bất ngờ, khi ấy mọi người

Cùng một lúc, vụt im lặng cả

Nghe tiếng gió rít đầu ngọn lửa.

Ngọn lửa đốt dầu thử vỉa, lửa khôi nguyên!

Ngắn ngủi thôi! Chỉ một phút lặng yên

Chỉ một phút để bàng hoàng ngây ngất.

Giàn khoan cùng rung trong một phút.

Biển xanh màu lạ quá! Vũng Tàu ơi!...”

Lòng đất đáp đền

Từ năm 1985-1999, ông Trần Hồi công tác liên tục 14 năm tại Cục Khoan biển (sau này là Xí nghiệp Khoan và Sửa chữa giếng của Liên doanh Vietsovpetro) với cương vị Phó Giám đốc phụ trách địa chất. Đây cũng là giai đoạn khoan tìm kiếm và phát hiện dầu khí mạnh mẽ nhất trên thềm lục địa Việt Nam.

Trong đó, một dấu mốc mà ông không bao giờ quên là ngày 11-5-1987, khi giếng khoan thăm dò số 6 mỏ Bạch Hổ (do tàu khoan Mikhain Mirchin của Liên Xô được Vietsovpetro thuê thực hiện) lần đầu tiên thử vỉa thành công trong tầng móng, cho dòng dầu tự phun mạnh - một phát hiện làm thay đổi căn bản tư duy khai thác dầu khí ở Việt Nam. Khi nhắc đến ngày này, ông Hồi đứng dậy, mở tủ, cẩn thận lấy ra một chiếc mũ bảo hộ màu đỏ đã ngả màu theo thời gian. Đó là chiếc mũ do Chánh kỹ sư Alexander Karsev của tàu khoan Mikhain Mirchin tặng ông ngay sau ca thử vỉa thành công. Ông cầm chiếc mũ trên tay, vừa như khoe với chúng tôi, vừa như nhắc lại một kỷ niệm mà theo ông là “không thể phai màu”.

Chính từ phát hiện dầu trong tầng móng năm 1987, Bạch Hổ bước sang một chương hoàn toàn mới. Đến nay, hơn 80% sản lượng dầu khai thác của Vietsovpetro - trong tổng số hơn 250 triệu tấn từ tầng móng. Đó không chỉ là bước nhảy vọt về trữ lượng, mà còn là nhảy vọt về tư duy khoa học và năng lực làm chủ công nghệ.

Khi lòng đất không phụ lòng người!
Hoạt động khai thác dầu khí ở mỏ Bạch Hổ (ảnh: Vương Thái)

Riêng giàn MSP-1 là một giàn đặc biệt: vừa là nơi khai thác tấn dầu đầu tiên từ tầng đá trầm tích tuổi Mioxen, đồng thời cũng là giàn khai thác dầu từ tầng móng đầu tiên khi các tầng trên suy giảm áp suất. Đến nay, chỉ riêng giàn này đã khai thác hơn 17 triệu tấn dầu và vẫn hoạt động hiệu quả.

Và kỹ sư Trần Hồi cũng là một trong những người dầu khí đặc biệt nhất với hai lần đồng hành, chứng kiến hai dấu mốc lịch sử quan trọng của ngành: dòng dầu thương mại đầu tiên và tấn dầu đầu tiên trong tầng móng nứt nẻ của mỏ Bạch Hổ.

Năm 2023, sau 12 năm nghỉ hưu, ông có dịp trở lại MSP-1. Đứng ngay tại miệng giếng khoan số 1, ông kể lại câu chuyện năm xưa, đọc lại “Ngọn lửa ngang”, bình từng câu, từng đoạn, như thể mọi ký ức vẫn còn nguyên vẹn.

Nhìn lại 36 năm làm việc trong ngành và 40 năm kể từ ngày khai thác tấn dầu đầu tiên, ông Trần Hồi luôn tâm niệm một điều giản dị: lòng đất không phụ lòng người. Lòng đất không biết nói tiếng người, nhưng biết đáp lại sự kiên trì, tâm huyết và tôn trọng của con người. Ông cũng nhấn mạnh, không bao giờ được quên sự giúp đỡ to lớn của các chuyên gia Liên Xô, nay là Liên bang Nga - những người đã cầm tay chỉ việc, đào tạo từ người thợ đến kỹ sư, từ khoan trên đất liền đến khai thác ngoài khơi. Họ là những người bạn thủy chung, tận tụy đã hoàn thành trọn vẹn sự tin cậy ủy thác của Bác Hồ ngày 23-7-1959 bên bờ biển Caspian - Ba Cu.

Bốn mươi năm, với lịch sử dầu khí thế giới chưa phải là dài. Nhưng với Việt Nam, một quốc gia dầu khí trẻ, đó là một hành trình đủ dài để khẳng định bản lĩnh và mở ra niềm tin cho các thế hệ sau. Và hành trình ấy bắt đầu từ tấn dầu đầu tiên ở Bạch Hổ năm 1986, tấn dầu mà đến hôm nay, trong ký ức của những người trực tiếp chứng kiến như ông Trần Văn Hồi, vẫn còn nguyên mùi dầu thô và vị mặn của gió biển năm đó.

Khi lòng đất không phụ lòng người!
Ông Trần Văn Hồi, chuyên gia Địa chất

Ông Trần Văn Hồi luôn tâm niệm một điều giản dị: lòng đất không phụ lòng người. Lòng đất không biết nói tiếng người, nhưng biết đáp lại sự kiên trì, tâm huyết và tôn trọng của con người.

Lê Trúc - Hồng Thắm - Minh Châu


Tác giả: Một quyết định dũng cảm trên thềm lục địa
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết