Sự kiện
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Thúc đẩy chuyển đổi số tại doanh nghiệp nhà nước đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2026 - 2030

Qua 40 năm đổi mới và 35 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn: tiềm lực, quy mô kinh tế và vị thế quốc tế được nâng cao rõ rệt.

Nguyễn Thị Thùy Dương
Cục Phát triển doanh nghiệp nhà nước (Bộ Tài chính); Email: [email protected]
Đoàn Đức Hiếu
Cục Phát triển doanh nghiệp nhà nước (Bộ Tài chính); Email: [email protected]
Nguyễn Thu Phương
Cục Phát triển doanh nghiệp nhà nước (Bộ Tài chính)

ĐẶT VẤN ĐỀ

Qua 40 năm đổi mới và 35 năm thực hiện Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn: tiềm lực, quy mô kinh tế và vị thế quốc tế được nâng cao rõ rệt. Tuy nhiên, trước những biến động thời đại và yêu cầu hiện thực hóa khát vọng trở thành quốc gia phát triển, thu nhập cao vào năm 2045, nền kinh tế đòi hỏi phải có bước đột phá về mô hình tăng trưởng.

Sự ra đời của Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển đã xác định rõ yêu cầu chuyển dịch sang mô hình tăng trưởng dựa trên năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số và chuyển đổi xanh. Trong cấu trúc đó, khu vực doanh nghiệp nhà nước (DNNN) – với quy mô tài sản khoảng 4,5 triệu tỷ đồng và giữ vị trí then chốt tại các ngành chiến lược – nắm giữ sứ mệnh tiên phong và dẫn dắt.

Dù đã đạt được nhiều kết quả tích cực, khu vực DNNN vẫn đang đối mặt với những rào cản về hiệu quả quản trị, năng lực cạnh tranh, tiến độ đầu tư công nghệ và áp lực hạ tầng số chưa đồng bộ. Do đó, việc làm rõ vai trò mở đường của DNNN và định hình các giải pháp cụ thể để thực hiện các mục tiêu tại Nghị quyết số 79-NQ/TW cũng như chỉ đạo của Chính phủ là vấn đề có ý nghĩa khoa học và thực tiễn cấp thiết hiện nay.

THỰC TRẠNG CỦA KHU VỰC DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG MÔ HÌNH PHÁT TRIỂN MỚI

Trong tiến trình đổi mới mô hình phát triển đất nước, chuyển đổi số đang ngày càng trở thành một động lực quan trọng đối với nâng cao năng suất, đổi mới phương thức quản trị và tăng cường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp nhà nước (DNNN). Đặc biệt, với vai trò nắm giữ nguồn lực lớn và hoạt động trong các ngành, lĩnh vực then chốt, DNNN có những điều kiện thuận lợi để đi đầu trong ứng dụng khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, qua đó tạo hiệu ứng lan tỏa đối với toàn bộ nền kinh tế.

Thúc đẩy chuyển đổi số tại doanh nghiệp nhà nước đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2026 - 2030
Nguồn: Bộ Tài chính
Thúc đẩy chuyển đổi số tại doanh nghiệp nhà nước đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế giai đoạn 2026 - 2030
Nguồn: Bộ Tài chính

Thứ nhất, nhận thức và định hướng về chuyển đổi số trong khu vực DNNN đã có bước chuyển biến rõ nét. Từ chỗ chủ yếu được nhìn nhận là giải pháp ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ quản lý, chuyển đổi

số ngày càng được đặt trong tổng thể đổi mới mô hình quản trị và mô hình phát triển doanh nghiệp. Yêu cầu này được đặt trong bối cảnh Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam xác định mô hình tăng trưởng mới phải dựa trên năng suất, khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nguồn nhân lực chất lượng cao. Đây là định hướng quan trọng để DNNN chuyển đổi từ mô hình quản trị truyền thống sang mô hình quản trị hiện đại, dựa trên dữ liệu và công nghệ.

Thứ hai, nền tảng và tiềm lực của khu vực DNNN tạo điều kiện thuận lợi để triển khai chuyển đổi số trên quy mô lớn. Sau quá trình sắp xếp, cơ cấu lại kéo dài nhiều thập kỷ, số lượng DNNN đã giảm mạnh từ hơn 12.000 doanh nghiệp vào cuối những năm 1980 xuống còn 695 doanh nghiệp hiện nay, trong đó gần 500 doanh nghiệp 100% vốn nhà nước. Các doanh nghiệp hiện chủ yếu tập trung trong những ngành, lĩnh vực then chốt như năng lượng, hạ tầng, viễn thông, tài chính, vận tải, khai khoáng, quốc phòng, an ninh và cung ứng dịch vụ công ích. Việc tập trung nguồn lực vào các doanh nghiệp có quy mô lớn tạo điều kiện để triển khai các nền tảng quản trị số, cơ sở dữ liệu, hạ tầng số và các giải pháp công nghệ có tính tích hợp cao.

Quy mô nguồn lực của khu vực này cũng cho thấy dư địa lớn để thúc đẩy đầu tư cho chuyển đổi số. Năm 2025, khu vực kinh tế nhà nước có tổng tài sản khoảng 4,5 triệu tỷ đồng, vốn chủ sở hữu 2,02 triệu tỷ đồng, doanh thu gần 2,9 triệu tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế khoảng 261 nghìn tỷ đồng. Với quy mô tài sản và hoạt động như vậy, việc nâng cao hiệu quả quản trị, tối ưu hóa vận hành và khai thác dữ liệu thông qua chuyển đổi số có thể tạo ra tác động đáng kể đến hiệu quả sử dụng vốn và năng suất của toàn khu vực.

Thứ ba, chuyển đổi số đang từng bước trở thành công cụ nâng cao hiệu quả quản trị và sử dụng nguồn lực. Việc ứng dụng các nền tảng quản trị doanh nghiệp, số hóa quy trình, xây dựng cơ sở dữ liệu và từng bước ứng dụng các công nghệ mới tạo điều kiện rút ngắn thời gian xử lý công việc, nâng cao khả năng kiểm soát và hỗ trợ ra quyết định. Đối với các tập đoàn, tổng công ty có quy mô lớn, chuyển đổi số còn tạo khả năng kết nối thông tin giữa công ty mẹ và các đơn vị thành viên, góp phần tăng cường quản trị tài chính, quản lý đầu tư, tài sản và rủi ro.

Đây là chuyển biến có ý nghĩa quan trọng bởi hiệu quả của chuyển đổi số cuối cùng cần được phản ánh thông qua năng suất sử dụng tài sản, hiệu quả sử dụng vốn, khả năng kiểm soát chi phí và chất lượng quản trị rủi ro. Chuyển đổi số vì vậy đang mở ra khả năng nâng cao hiệu quả hoạt động của DNNN không chỉ thông qua giảm chi phí vận hành mà còn thông qua tối ưu hóa phân bổ nguồn lực và nâng cao chất lượng quyết định đầu tư.

Thứ tư, vai trò dẫn dắt của DNNN trong chuyển đổi số quốc gia ngày càng được xác định rõ. Với lợi thế về quy mô, nguồn lực và vị trí trong các ngành chiến lược, các DNNN lớn có khả năng đóng vai trò đầu tàu trong phát triển hạ tầng số, sản phẩm và dịch vụ số, qua đó hỗ trợ hình thành hệ sinh thái số và tạo thị trường cho doanh nghiệp công nghệ trong nước. Đây cũng là cơ sở để DNNN thực hiện tốt hơn vai trò “mở đường”, “dẫn dắt” và tạo hiệu ứng lan tỏa sang khu vực tư nhân.

Đặc biệt, trong bối cảnh triển khai Nghị quyết số 57-NQ/TW của Bộ Chính trị về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia, chuyển đổi số tại DNNN không còn là nhiệm vụ riêng của từng doanh nghiệp mà gắn với năng lực cạnh tranh quốc gia và yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng.

Thứ năm, mục tiêu chuyển đổi số trong khu vực DNNN đã được xác lập ở mức độ cao, tạo động lực cho giai đoạn tới. Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 về phát triển kinh tế nhà nước đặt mục tiêu đến năm 2030 có khoảng 50 DNNN nằm trong nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á, từ 1 đến 3 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới; có ít nhất 3 ngân hàng thương mại nhà nước thuộc nhóm 100 ngân hàng lớn nhất khu vực châu Á về tổng tài sản; 100% DNNN thực hiện quản trị hiện đại trên nền tảng số và 100% tập đoàn, tổng công ty nhà nước áp dụng các nguyên tắc quản trị doanh nghiệp của OECD.

Như vậy, xét từ góc độ tài chính, chuyển đổi số đang tạo ra một nền tảng mới để DNNN nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực nhà nước, cải thiện chất lượng quản trị và tăng năng lực cạnh tranh. Những kết quả bước đầu cùng với mục tiêu được xác lập rõ ràng cho đến năm 2030 là cơ sở quan trọng để khu vực DNNN phát huy vai trò tiên phong trong khoa học - công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, qua đó đóng góp thiết thực vào mục tiêu tăng trưởng nhanh, bền vững và đổi mới mô hình phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

Bên cạnh những kết quả bước đầu, chuyển đổi số tại DNNN vẫn còn một số tồn tại, hạn chế cần được nhận diện đầy đủ, nhất là trong mối quan hệ với quá trình đổi mới quản trị, cơ cấu lại và nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước. Những hạn chế này không chỉ làm chậm quá trình ứng dụng công nghệ mà còn ảnh hưởng đến khả năng nâng cao năng suất, tối ưu hóa nguồn lực và thực hiện vai trò dẫn dắt của DNNN trong mô hình phát triển mới.

Thứ nhất, cơ chế, chính sách và quy trình quản lý chưa thực sự tạo môi trường thuận lợi cho chuyển đổi số. Tương tự những vướng mắc trong cổ phần hóa, thoái vốn, quá trình đầu tư, mua sắm và triển khai các hệ thống công nghệ số tại DNNN còn chịu tác động của nhiều quy định, thủ tục và cách hiểu khác nhau giữa các cơ quan. Việc xác định trách nhiệm, thẩm quyền trong một số quyết định đầu tư, quản lý tài sản, dữ liệu và hạ tầng số còn có thể phát sinh độ trễ. Trong khi công nghệ thay đổi nhanh, quy trình quyết định kéo dài làm giảm khả năng nắm bắt cơ hội và khiến đầu tư số có nguy cơ không còn phù hợp khi được đưa vào vận hành.

Thứ hai, chuyển đổi số chưa gắn chặt với đổi mới mô hình quản trị và cơ cấu lại DNNN. Thực tế cho thấy nhiều DNNN sau cổ phần hóa vẫn chưa thực sự đổi mới về tổ chức hoạt động và cơ chế quản lý; nhiều doanh nghiệp chưa niêm yết sau cổ phần hóa, chưa khai thác đầy đủ các kênh huy động vốn và yêu cầu minh bạch của thị trường chứng khoán. Điều này phản ánh một vấn đề rộng hơn: số hóa nếu không đi cùng tái cấu trúc quy trình, đổi mới quản trị và nâng cao trách nhiệm giải trình sẽ khó tạo ra thay đổi thực chất về hiệu quả hoạt động.

Thứ ba, công tác cơ cấu lại, cổ phần hóa và thoái vốn còn chậm, làm hạn chế động lực chuyển đổi số. Số liệu giai đoạn 2021 - 2025 cho thấy trong danh mục kế hoạch cổ phần hóa 128 doanh nghiệp, có 39 doanh nghiệp thuộc kế hoạch, trong khi có tới 141 doanh nghiệp cổ phần hóa ngoài kế hoạch. Một số địa phương có tiến độ rất thấp: Hà Nội được giao kế hoạch cổ phần hóa 15 doanh nghiệp nhưng đến hết giai đoạn mới hoàn thành 1 doanh nghiệp; TP. Hồ Chí Minh được giao kế hoạch 39 doanh nghiệp nhưng chưa hoàn thành cổ phần hóa doanh nghiệp nào. Việc chậm cổ phần hóa, thoái vốn làm kéo dài quá trình chuyển đổi mô hình quản trị, đồng thời hạn chế sức ép cạnh tranh và yêu cầu minh bạch vốn là những động lực quan trọng thúc đẩy chuyển đổi số.

Thứ tư, chức năng đại diện chủ sở hữu và phương thức giám sát chưa được số hóa tương xứng. Đặc biệt, công tác giám sát tài chính vẫn chủ yếu dựa trên chế độ báo cáo hành chính, trong khi công cụ giám sát trên hệ thống thông tin trực tuyến kết nối với từng doanh nghiệp chưa được áp dụng hiệu quả. Đây là điểm nghẽn trực tiếp đối với xây dựng mô hình quản trị vốn nhà nước dựa trên dữ liệu.

Thứ năm, chất lượng quản trị dữ liệu và năng lực khai thác công nghệ còn hạn chế. Khi dữ liệu chưa được chuẩn hóa, kết nối và cập nhật đồng bộ, việc ứng dụng trí tuệ nhân tạo, phân tích dữ liệu lớn và các công cụ dự báo trong quản trị tài chính, đầu tư và quản trị rủi ro khó đạt hiệu quả cao. Bên cạnh đó, việc chưa xây dựng được hệ thống tiêu chí giám sát, đánh giá phù hợp với từng ngành, lĩnh vực cũng khiến cơ quan đại diện chủ sở hữu khó đánh giá chính xác hiệu quả chuyển đổi số của từng doanh nghiệp.

Thứ sáu, nguồn lực và trách nhiệm đối với chuyển đổi số chưa được phân bổ và gắn kết đầy đủ. Việc thiếu nhân lực chuyên môn cao, đặc biệt về công nghệ và dữ liệu, trong khi cơ chế ra quyết định đầu tư còn nhiều tầng nấc, có thể làm giảm hiệu quả triển khai.

Đồng thời, tình trạng chậm xử lý các kiến nghị của doanh nghiệp về huy động vốn, dự án đầu tư, mua bán tài sản cố định, đầu tư ra nước ngoài, phê duyệt báo cáo tài chính và phương án phân phối lợi nhuận cho thấy độ trễ trong cơ chế đại diện chủ sở hữu vẫn là một yếu tố cần được khắc phục.

Những hạn chế trên cho thấy điểm nghẽn của chuyển đổi số tại DNNN không chỉ nằm ở công nghệ và nguồn vốn đầu tư, mà sâu xa hơn là ở thể chế, quản trị và cơ chế phân bổ trách nhiệm. Nếu không giải quyết đồng thời các vấn đề này, chuyển đổi số khó trở thành công cụ nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước. Ngược lại, việc gắn chuyển đổi số với cơ cấu lại DNNN, cổ phần hóa, đổi mới quản trị và hiện đại hóa phương thức đại diện chủ sở hữu sẽ tạo nền tảng để khu vực DNNN chuyển từ quản lý dựa trên báo cáo sang quản trị dựa trên dữ liệu, từ đó nâng cao năng suất, năng lực cạnh tranh và vai trò dẫn dắt trong mô hình phát triển mới.

GIẢI PHÁP THÚC ĐẨY VAI TRÒ TIÊN PHONG CHUYỂN ĐỔI SỐ CỦA DOANH NGHIỆP NHÀ NƯỚC TRONG BỐI CẢNH MỚI

Để thực hiện các mục tiêu của Nghị quyết số 79- NQ/TW, chuyển đổi số tại doanh nghiệp nhà nước (DNNN) cần được nhìn nhận không chỉ là nhiệm vụ về công nghệ mà là một cấu phần quan trọng của đổi mới mô hình quản trị, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Trong bối cảnh đó, cần tập trung một số giải pháp trọng tâm sau:

Thứ nhất, hoàn thiện hành lang pháp lý và cơ chế đầu tư công nghệ cho DNNN. Cần sớm rà soát, sửa đổi các quy định về đầu tư, mua sắm tài sản số, cơ sở dữ liệu theo hướng tăng quyền chủ động cho doanh nghiệp. Xây dựng cơ chế hạch toán chi phí R&D và thử nghiệm công nghệ số (sandbox); đồng thời quy định rõ ranh giới giữa rủi ro thương mại/công nghệ với vi phạm quản lý vốn nhà nước, giải tỏa tâm lý e ngại cho cán bộ quản lý.

Thứ hai, chuyển đổi mạnh mẽ từ quản trị dựa trên báo cáo sang quản trị dựa trên dữ liệu (Data-driven Management). Cơ quan đại diện chủ sở hữu và các DNNN cần hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu tập trung, kết nối trực tuyến. Phương thức giám sát tài chính, dòng tiền, hiệu quả sử dụng vốn cần chuyển hoàn toàn sang kiểm tra tự động trên nền tảng số theo thời gian thực (real-time), giảm bớt thủ tục hành chính báo cáo thủ công.

Thứ ba, tái cấu trúc mô hình vận hành và triển khai 7 nhóm giải pháp tiên phong theo Thông báo 216/TBVPCP. DNNN cần chủ động chuẩn hóa hồ sơ, ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) vào quản trị tài chính, chuỗi cung ứng và quản lý rủi ro. CĐS phải đi liền với tái cấu trúc bộ máy, cắt giảm khâu trung gian để tối ưu hóa chi phí và nâng cao năng suất lao động.

Thứ tư, ưu tiên nguồn lực phát triển hạ tầng số dùng chung và dẫn dắt hệ sinh thái. Các DNNN lớn đóng vai trò nòng cốt xây dựng hạ tầng số quốc gia (Trung tâm dữ liệu, Điện toán đám mây doanh nghiệp). Tăng cường hợp tác với doanh nghiệp công nghệ trong nước và các viện nghiên cứu để nhận chuyển giao, tự chủ các công nghệ nền tảng.

Thứ năm, đổi mới cơ chế nhân lực và đo lường CĐS bằng chỉ tiêu tài chính định lượng. Xây dựng cơ chế trả lương, thưởng linh hoạt theo thị trường để thu hút chuyên gia công nghệ xuất sắc. Kết quả CĐS phải được đo lường cụ thể qua các chỉ tiêu tài chính: mức tiết giảm chi phí vận hành, tăng hiệu suất sử dụng tài sản (ROA), tỷ suất lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu (ROE) và năng suất lao động tổng hợp (TFP).

Bên cạnh đó, cần đo lường hiệu quả chuyển đổi số bằng các chỉ tiêu tài chính cụ thể, như mức tiết giảm chi phí, tăng năng suất lao động, hiệu quả sử dụng tài sản, vốn và chất lượng quản trị rủi ro. Khi chuyển đổi số thực sự tạo ra hiệu quả kinh tế và nâng cao giá trị vốn nhà nước, DNNN mới có thể phát huy đầy đủ vai trò tiên phong trong mô hình tăng trưởng mới.

KẾT LUẬN

Chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo không chỉ là giải pháp kỹ thuật mà là lựa chọn chiến lược mang tính sống còn đối với khu vực DNNN. Với quy mô và nguồn lực sẵn có, các DNNN cần phát huy vai trò tiên phong, không chỉ tự nâng cao năng lực cạnh tranh mà còn làm bệ phóng, tạo lực đẩy cho cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam. Việc thực hiện hiệu quả các định hướng tại Nghị quyết số 19-NQ/TW, Nghị quyết số 79-NQ/TW và chỉ đạo của Chính phủ sẽ là nền tảng vững chắc để đưa đất nước đạt mục tiêu tăng trưởng hai con số giai đoạn 2026–2030, hướng tới tầm nhìn phát triển bền vững đến năm 2045 và 2130.n

Tài liệu tham khảo:

1. Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 19-NQ/TW ngày 28/7/2026 về đổi mới mô hình phát triển Việt Nam.

2. Bộ Chính trị (2026). Nghị quyết số 79-NQ/TW ngày 06/01/2026 về phát triển kinh tế nhà nước.

3. Bộ Tài chính (2026). Báo cáo tại Hội nghị thường trực Chính phủ với cộng đồng doanh nghiệp, tháng 7/2026.

4. Văn phòng Chính phủ (2026). Thông báo số 216/TB-VPCP ngày 06/5/2026 kết luận tại Hội nghị Thủ tướng Chính phủ với doanh nghiệp nhà nước về tiên phong trong chuyển đổi số và thúc đẩy tăng trưởng


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết