Sự kiện
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Thứ trưởng Bộ Tài chính: Lấy doanh nghiệp làm trung tâm, lấy hiệu quả làm thước đo

Nghị quyết 68-NQ/TW, một trong các Nghị quyết được Đảng, Nhà nước xác định là một định hướng lớn, có ý nghĩa chiến lược trong việc thúc đẩy, phát huy vai trò của khu vực kinh tế tư nhân, là quyết sách quan trọng để tạo nền tảng đưa đất nước bước vào giai đoạn phát triển mới với yêu cầu tăng trưởng nhanh và bền vững.

Sau gần một năm triển khai Nghị quyết 68-NQ/TW, khu vực kinh tế tư nhân đang ghi nhận những chuyển biến tương đối rõ nét cả về quy mô và chất lượng phát triển. Nhiều chính sách đã bắt đầu đi vào thực chất, tạo động lực mới cho tăng trưởng; môi trường đầu tư kinh doanh tiếp tục được cải thiện theo hướng minh bạch, thuận lợi hơn; thể chế được hoàn thiện, các điểm nghẽn được tháo gỡ, tạo thêm cơ hội phát triển, khởi nghiệp cho doanh nghiệp.

Trao đổi với Báo Nhà báo và Công luận, Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Tâm đánh giá sau một năm triển khai, những kết quả bước đầu này cho thấy Nghị quyết 68-NQ/TW đã từng bước đi vào cuộc sống, tạo lực đẩy cho khu vực kinh tế tư nhân phát triển mạnh mẽ, chủ động hơn, tăng sức cạnh tranh cho nền kinh tế và cả quốc gia.

z7880425411491-37299e9291db559605b799b844d41bf4.jpg

Thứ trưởng Bộ Tài chính Nguyễn Đức Tâm. Ảnh: TN

Khu vực kinh tế tư nhân - Động lực quan trọng nhất của nền kinh tế

+ Thưa Thứ trưởng, Nghị quyết 68-NQ/TW của Bộ Chính trị được xem là một bước ngoặt trong tư duy phát triển. Sau một năm kể từ khi Nghị quyết được ban hành, Thứ trưởng đánh giá như thế nào về những kết quả ban đầu và chuyển biến của khu vực kinh tế tư nhân?

- Trước hết, Tôi khẳng định khu vực kinh tế tư nhân đã được định vị với vai trò là một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế. Trên cơ sở đó, nhận thức cả hệ thống chính trị và của toàn xã hội đối với khu vực này đã có sự chuyển biến có tính bước ngoặt; tinh thần của Nghị quyết không chỉ dừng lại ở chủ trương mà còn được cụ thể hóa bằng Chương trình hành động của Chính phủ triển khai thực hiện, Nghị quyết của Quốc hội, các chỉ đạo, cơ chế, chính sách của Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương.

Thực tiễn cho thấy, sau một năm triển khai Nghị quyết 68-NQ/TW (Nghị quyết 68) của Bộ Chính trị, khu vực kinh tế tư nhân đã có những chuyển biến rõ nét cả về quy mô, chất lượng và niềm tin phát triển, đạt được một số kết quả đáng khích lệ, cụ thể như sau:

Thứ nhất, Nghị quyết đã tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ tinh thần khởi nghiệp và kinh doanh trong xã hội. Ngay sau khi Nghị quyết số 68 được ban hành và được thể chế hóa thông qua Chương trình hành động của Chính phủ, khí thế khởi sự kinh doanh lan tỏa mạnh mẽ, thể hiện rõ qua số lượng doanh nghiệp, hộ kinh doanh đăng ký mới và quay trở lại hoạt động tăng mạnh.

Thứ hai, cùng với đà phục hồi kinh tế và niềm tin gia tăng của khu vực kinh tế tư nhân, việc chuẩn bị thành công lộ trình nâng hạng thị trường chứng khoán đã tạo động lực mới cho dòng vốn đầu tư. Đặc biệt, thị trường chứng khoán Việt Nam có bước khởi sắc mạnh mẽ sau khi Nghị quyết số 68 được ban hành.

Thứ ba, hoạt động xuất nhập khẩu là điểm sáng nổi bật và là một trong những động lực quan trọng của tăng trưởng kinh tế Việt Nam trong 4 tháng đầu năm 2026 với tổng giá trị xuất, nhập khẩu hàng hóa đạt hơn 345 tỷ USD, tăng gần 25% so với cùng kỳ 2025. Trong đó, giá trị hàng hóa xuất khẩu chịu thuế đạt 61 tỷ USD, tăng 24,3% so với 4 tháng đầu năm ngoái. Nhờ vậy, ngân sách thu được từ hoạt động xuất nhập khẩu đạt hơn 166.300 tỷ đồng, đạt xấp xỉ 37% dự toán và tăng 16,5%.

Cuối cùng là, kết quả phục hồi và tăng trưởng sản xuất – kinh doanh của khu vực kinh tế tư nhân tiếp tục tác động tích cực tới thu ngân sách nhà nước. Lũy kế 4 tháng đầu năm 2026, tổng thu ngân sách nhà nước ước đạt 1.114 nghìn tỷ đồng, bằng 44% dự toán và tăng 15,2% so với cùng kỳ; trong đó thu nội địa ước đạt 991 nghìn tỷ đồng, tăng 17,4%.

Riêng số thu do cơ quan thuế quản lý đạt khoảng 1.008 nghìn tỷ đồng, bằng 44,9% dự toán và tăng 17% so với cùng kỳ; thu từ khu vực sản xuất kinh doanh tăng 31,2%, tiếp tục là động lực chính của tăng trưởng thu ngân sách.

Việc triển khai Nghị quyết số 68 còn tạo hiệu ứng lan tỏa trong huy động nguồn lực xã hội, thu hút các tập đoàn tư nhân lớn tham gia đầu tư vào các dự án hạ tầng chiến lược, quan trọng quốc gia.

Nghị quyết không chỉ tác động tới quy mô, tốc độ gia nhập thị trường và các chỉ tiêu tài chính – thương mại trong ngắn hạn, mà còn góp phần định hình lại cấu trúc phát triển của khu vực kinh tế tư nhân, gia tăng vai trò của khu vực này trong thực hiện các mục tiêu phát triển nhanh và bền vững của đất nước trong trung và dài hạn.

tt-tam.jpg

Thứ trưởng cho biết: Từ ngày 1/7/2026, số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện sẽ giảm từ 198 xuống còn 142. Ảnh: TN

Xây dựng môi trường kinh doanh thuận lợi nhất cho khu vực kinh tế tư nhân

+ Nghị quyết 68 đặt trọng tâm vào cải cách thể chế, cắt giảm thủ tục hành chính và chuyển từ “tiền kiểm” sang “hậu kiểm” nhằm tạo môi trường kinh doanh thuận lợi hơn cho khu vực kinh tế tư nhân. Thứ trưởng đánh giá như thế nào về kết quả triển khai và những chuyển biến thực chất thời gian qua?

- Trên tinh thần Nghị quyết 68-NQ, công tác hoàn thiện thể chế, pháp luật về đầu tư, kinh doanh, cắt giảm thủ tục hành chính và cải thiện môi trường kinh doanh tiếp tục được Đảng, Nhà nước tập trung chỉ đạo quyết liệt.

Tại Phiên họp quý I/2026, Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế, pháp luật đã cho ý kiến về các cơ chế, chính sách lớn để thể chế hóa chủ trương phát triển kinh tế tư nhân theo Nghị quyết 68.

Nhiều nội dung về phát triển kinh tế tư nhân đã được đưa vào Văn kiện Đại hội XIV, được cụ thể hóa tại các nhiệm vụ tại Kết luận 18-KL/TW của Trung ương và Nghị quyết 109/NQ-CP của Chính phủ.

Ngay từ đầu tháng 4, với sự chỉ đạo quyết liệt của Thủ tướng Chính phủ, Chính phủ đã ban hành 11 Nghị quyết về cắt giảm (bãi bỏ), phân cấp và đơn giản hóa các thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc các lĩnh vực quan trọng như tư pháp, đầu tư, môi trường…

Đồng thời, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành 15 Quyết định phê duyệt Phương án cắt giảm thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh thuộc phạm vi quản lý của 14 Bộ, dự kiến sẽ bãi bỏ 606 thủ tục hành chính, đơn giản hóa 2.479 thủ tục hành chính.

Tính đến ngày 15/4/2026, các bộ, ngành đã thực thi phương án đơn giản hóa và chủ động cắt giảm 292 thủ tục hành chính, đơn giản hóa 1.640 thủ tục kinh doanh; cắt giảm 2.594/6.974 điều kiện kinh doanh (đạt tỷ lệ 37,2%); tương ứng cắt giảm 30,9% thời gian thực hiện TTHC (khoảng 27.704 ngày/89.721 ngày) và 38% chi phí tuân thủ (khoảng 45,5 nghìn tỷ đồng/ 120 nghìn tỷ đồng).

Luật Đầu tư vừa được Quốc hội thông qua tại Kỳ họp thứ 10 đã sửa đổi toàn diện, thể chế hóa đầy đủ các chủ trương, quan điểm của Đảng, thiết lập được khung pháp lý đầy đủ, đồng bộ, góp phần hoàn thiện môi trường đầu tư kinh doanh, nâng cao chất lượng các dự án đầu tư. Một điểm cải cách lớn của Luật là rà soát, cắt giảm mạnh danh mục ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện.

Theo đó, Chính phủ đã trình Quốc hội cắt giảm 38 ngành, nghề và điều chỉnh phạm vi 20 ngành, nghề, phù hợp với tinh thần Nghị quyết số 68-NQ/TW và Nghị quyết số 198/2025/QH15 về cải thiện môi trường kinh doanh.

Luật bổ sung các quy định để làm rõ nguyên tắc xác định điều kiện đầu tư kinh doanh, qua đó rà soát, sàng lọc, phân định các ngành, nghề thực sự cần thực hiện “tiền kiểm” và chuyển các ngành, nghề có thể kiểm soát bằng quy chuẩn, tiêu chuẩn kỹ thuật do cấp có thẩm quyền ban hành sang cơ chế “hậu kiểm”, góp phần giảm chi phí tuân thủ và tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.

Không dừng lại ở đó, trong giữa tháng 5, Chính phủ đã ban hành 3 Nghị quyết đặc thù về phân quyền, cắt giảm, đơn giản thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh của 11 ngành, lĩnh vực và các ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện, đây là cơ sở pháp lý vững chắc để thời gian tới tiếp tục đẩy mạnh cắt giảm, đơn giản hóa thủ tục hành chính, điều kiện kinh doanh, qua đó giảm chi phí tuân thủ, tạo thuận lợi hơn cho người dân và doanh nghiệp.

Theo đó, từ ngày 1/7/2026, số ngành, nghề đầu tư kinh doanh có điều kiện sẽ giảm từ 198 xuống còn 142, gồm: kinh doanh chứng khoán, bảo hiểm, vàng, xăng dầu, vận tải hàng không, bất động sản, dịch vụ viễn thông, dịch vụ khám chữa bệnh, hoạt động giáo dục đại học, phổ thông và mầm non; kinh doanh dịch vụ viễn thông và mạng xã hội; hành nghề luật sư, công chứng và giám định tư pháp…

+ Một trong những nhiệm vụ trọng tâm của Nghị quyết 68-NQ/TW là tăng cường cơ hội tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất kinh doanh cho kinh tế tư nhân. Đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNNVV), doanh nghiệp công nghệ cao, doanh nghiệp đổi mới sáng tạo, mặt bằng không chỉ là điều kiện sản xuất, mà còn là không gian để đổi mới công nghệ, mở rộng quy mô và tham gia sâu hơn vào chuỗi giá trị. Thứ trưởng nhìn nhận như thế nào về ý nghĩa của chính sách này?

- Tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất, kinh doanh là một trong những điểm nghẽn lớn, kéo dài đối với khu vực kinh tế tư nhân, đặc biệt là doanh nghiệp nhỏ và vừa. Trong khi đó, dư địa phát triển mặt bằng sản xuất của nước ta còn rất lớn.

 

Tính đến hết năm 2025, cả nước đã có 478 khu công nghiệp được thành lập; trong đó 324 khu đã đi vào hoạt động với khoảng 68 nghìn ha đất công nghiệp, 153 khu đang trong quá trình xây dựng, dự kiến bổ sung khoảng 32,6 nghìn ha đất công nghiệp trong thời gian tới. Tuy nhiên, tỷ lệ lấp đầy tại các khu công nghiệp đã hoạt động đạt khoảng 78,8%, cho thấy nhu cầu mặt bằng sản xuất còn rất cao, trong khi DNNVV vừa thường gặp bất lợi hơn trong cạnh tranh thuê đất, thuê nhà xưởng so với các doanh nghiệp lớn.

Chính vì vậy, Nghị quyết số 68-NQ/TW đã xác định tạo thuận lợi cho kinh tế tư nhân tiếp cận các nguồn lực về đất đai, vốn, nhân lực chất lượng cao là một trong những nhóm nhiệm vụ, giải pháp quan trọng; trong đó đặt yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số để tạo thuận lợi cho khu vực kinh tế tư nhân tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất, kinh doanh, đồng thời có cơ chế, chính sách phù hợp để kiểm soát biến động giá đất, nhất là giá đất sản xuất, kinh doanh phi nông nghiệp, nhằm hạn chế tác động đến kế hoạch đầu tư, sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp.

Đây là cơ sở chính trị quan trọng để tiếp tục hoàn thiện các chính sách cụ thể về mặt bằng sản xuất cho doanh nghiệp, nhất là DNNVV, doanh nghiệp công nghệ cao và doanh nghiệp khởi nghiệp sáng tạo.

Trong thời gian tới, trọng tâm là phải đưa chính sách hỗ trợ doanh nghiệp tư nhân tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất đi vào thực chất, chuyển từ cách tiếp cận hỗ trợ chung sang hỗ trợ cụ thể, các địa phương cần nhanh chóng bố trí, dành quỹ đất cho các DNNVV theo quy định tại Nghị quyết số 198/2025/QH15, song song cần xây dựng cơ chế vận hành và có chủ thể chịu trách nhiệm đúng thẩm quyền.

Nghị định số 20/2026/NĐ-CP ngày 15/01/2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Nghị quyết số 198/2025/QH15 đã giao thẩm quyền cho địa phương quy định cụ thể danh mục tài sản công cho thuê, tiêu chí, mức hỗ trợ, hình thức hỗ trợ, trình tự, thủ tục cho thuê đối với từng loại tài sản theo quy định tại Nghị quyết số 198/2025/QH15. Như vậy, các địa phương cần nâng cao tính chủ động để thực hiện quy định này, đảm bảo khai thác, sử dụng tài sản công đúng pháp luật và có hiệu quả.

Về phía Bộ Tài chính, trong quá trình xây dựng dự thảo Luật Hỗ trợ DNNVV (sửa đổi), dự kiến trình Chính phủ để báo cáo Quốc hội tại Kỳ họp thứ 2 tháng 10/2026, chúng tôi sẽ tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện chính sách hỗ trợ tiếp cận đất đai, mặt bằng sản xuất, kinh doanh theo hướng quy định rõ hơn trách nhiệm của địa phương, cơ chế công khai quỹ đất, phương thức hỗ trợ và nhóm đối tượng ưu tiên.

Mục tiêu là để chính sách về hỗ trợ mặt bằng không chỉ tháo gỡ khó khăn trước mắt, mà còn tạo lập một “đường băng” dài hạn, giúp DNNVV có thêm không gian phát triển, mở rộng sản xuất, đổi mới công nghệ và nâng cao năng lực cạnh tranh.

viec-lam.jpg

Sau một năm triển khai Nghị quyết 68, có thể nói nhận thức về kinh tế tư nhân được khẳng định trong toàn hệ thống chính trị và xã hội. Ảnh minh họa/CP

Phát triển kinh tế tư nhân: Lấy doanh nghiệp làm trung tâm của chính sách

+ Năm 2026 được kỳ vọng là giai đoạn chuyển mạnh từ hoàn thiện chính sách sang tổ chức thực hiện, từ chủ trương sang kết quả cụ thể. Từ góc độ người trực tiếp theo dõi, chỉ đạo công tác triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW, Thứ trưởng kỳ vọng điều gì ở chặng đường sắp tới?

- Sau một năm triển khai Nghị quyết 68, có thể nói nhận thức về kinh tế tư nhân được khẳng định trong toàn hệ thống chính trị và xã hội, thể chế và niềm tin của cộng đồng doanh nghiệp đã được củng cố rõ hơn.

Vấn đề đặt ra trong giai đoạn tới là làm sao để những chủ trương, chính sách đã được ban hành chuyển hóa nhanh hơn thành kết quả cụ thể trong thực tiễn. Doanh nghiệp cần cảm nhận được sự thay đổi không chỉ qua thông điệp đồng hành, mà qua thủ tục thuận lợi hơn, chi phí tuân thủ thấp hơn, khả năng tiếp cận nguồn lực tốt hơn và sự chủ động hơn từ cơ quan nhà nước trong hỗ trợ khu vực kinh tế tư nhân.

Vì vậy, từ năm 2026 cần được xem là giai đoạn hành động thực chất, tập trung mạnh vào tổ chức thực hiện và đo lường hiệu quả chính sách bằng chính trải nghiệm của doanh nghiệp, hộ kinh doanh.

Đối với Bộ Tài chính, các nhiệm vụ phải hoàn thành trong năm 2026 tại Nghị quyết số 138/NQ-CP và Nghị quyết số 139/NQ-CP của Chính phủ đều gắn trực tiếp với yêu cầu này.

Bộ đang tập trung rà soát, hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan đến hoạt động kinh doanh của khu vực kinh tế tư nhân; trong đó tập trung vào sửa đổi toàn diện Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa, hoàn thiện các văn bản hướng dẫn về đầu tư, thuế, phí và lệ phí, trái phiếu doanh nghiệp, Quỹ Phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, quỹ bảo lãnh tín dụng cho DNNVV.

Đây là những công cụ quan trọng để giảm chi phí tuân thủ, mở rộng kênh huy động vốn, nâng cao năng lực quản trị và tạo thêm dư địa phát triển cho doanh nghiệp.

Đối với các bộ, ngành, địa phương: cần chủ động, quyết liệt triển khai; bố trí nguồn lực thực hiện các nhiệm vụ để các chủ trương, chính sách đi vào cuộc sống; đảm bảo nhiệm vụ có kết quả đầu ra, KPI cụ thể và đánh giá trên mức độ tiếp cận, hài lòng của doanh nghiệp, hộ kinh doanh.

Song song, thực hiện rà soát đánh giá sự phù hợp của văn bản quy phạm pháp luật với chủ trương, đường lối của Đảng về phát triển kinh tế tư nhân nhằm kịp thời đề xuất sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ, ban hành mới các quy định cho phù hợp và đề xuất sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện các chủ trương để bảo đảm sự thống nhất và phù hợp với yêu cầu thực tiễn phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới.

Hiệu quả triển khai Nghị quyết 68 vì vậy cần được đo bằng những thay đổi mà doanh nghiệp cảm nhận được trong thực tiễn: niềm tin được củng cố, quyết định đầu tư mạnh dạn hơn, năng lực đổi mới tốt hơn và sức cạnh tranh của khu vực kinh tế tư nhân được cải thiện rõ rệt.

Tôi muốn nhấn mạnh một thông điệp xuyên suốt, nhất quán, không thay đổi, đó là “lấy doanh nghiệp làm trung tâm – lấy hiệu quả làm thước đo – lấy kết quả thực tế làm đánh giá cuối cùng”. Phát triển kinh tế tư nhân là mệnh lệnh từ thực tiễn, là yêu cầu chiến lược lâu dài, là thước đo năng lực điều hành của bộ máy nhà nước.

Với vai trò là Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo quốc gia triển khai Nghị quyết số 68-NQ/TW, Bộ Tài chính sẽ luôn tiên phong đổi mới, đồng hành cùng doanh nghiệp, hộ kinh doanh để tháo gỡ thực chất các rào cản, tạo thuận lợi cho kinh tế tư nhân tiếp cận các nguồn lực phát triển, qua đó đưa khu vực kinh tế tư nhân thực sự trở thành một động lực quan trọng nhất của nền kinh tế, đúng như tinh thần của Nghị quyết 68.

Tôi muốn nhấn mạnh một thông điệp xuyên suốt, nhất quán, không thay đổi, đó là lấy doanh nghiệp làm trung tâm – lấy hiệu quả làm thước đo – lấy kết quả thực tế làm đánh giá cuối cùng.

Xin cảm ơn Thứ trưởng đã dành thời gian chia sẻ!


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết