Giảm thuế tiếp sức cho hộ kinh doanh và doanh nghiệp, hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế
Quốc hội khóa XVI đã thông qua Nghị quyết ngày 24/8/2026 về giảm thuế thu nhập đối với cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp. Theo đó, cá nhân/hộ kinh doanh có doanh thu hằng năm không quá 10 tỷ đồng được giảm 30% số thuế thu nhập cá nhân phải nộp; doanh nghiệp có doanh thu hằng năm không quá 10 tỷ đồng được giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong kỳ tính thuế năm 2026 và 2027.
![]() |
| Việc Quốc hội thông qua chính sách giảm 30% thuế thu nhập phải nộp trong hai năm 2026 - 2027 đối với cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ được kỳ vọng tạo thêm dư địa tài chính cho khu vực sản xuất, kinh doanh. |
Trao thêm nguồn lực cho khu vực sản xuất, kinh doanh
Quốc hội khóa XVI đã thông qua Nghị quyết ngày 24/8/2026 về giảm thuế thu nhập đối với cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp. Theo đó, cá nhân/hộ kinh doanh có doanh thu hằng năm không quá 10 tỷ đồng được giảm 30% số thuế thu nhập cá nhân phải nộp; doanh nghiệp có doanh thu hằng năm không quá 10 tỷ đồng được giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong kỳ tính thuế năm 2026 và 2027.
Phóng viên: Ông đánh giá như thế nào về ý nghĩa và tác động của việc Quốc hội vừa thông qua chính sách giảm 30% thuế thu nhập đối với cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp có doanh thu hằng năm không quá 10 tỷ đồng?
PGS.TS. Ngô Trí Long: Theo tôi đây là một quyết sách đúng thời điểm, đúng đối tượng và có ý nghĩa kinh tế lớn hơn nhiều so với số tiền thuế được giảm trực tiếp. Trước hết, cần nói thật chính xác để tránh nhầm lẫn: đây là giảm 30% số thuế thu nhập phải nộp, không phải miễn hoàn toàn thuế. Đối tượng được hưởng là cá nhân, hộ kinh doanh và doanh nghiệp có doanh thu hằng năm không quá 10 tỷ đồng trong kỳ tính thuế năm 2026 và 2027. Có nghĩa là doanh thu đúng bằng 10 tỷ đồng vẫn thuộc diện được hưởng chính sách.
Điều đáng chú ý hơn ở đây là thông điệp chính sách. Trong điều kiện nền kinh tế cần duy trì động lực tăng trưởng cao, khu vực hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ cần được tạo điều kiện tích lũy vốn, mở rộng sản xuất và nâng cao sức chống chịu. Việc Nhà nước chủ động giảm một phần nghĩa vụ thuế có nghĩa là để lại thêm nguồn lực trong tay những người trực tiếp tổ chức sản xuất, kinh doanh và tạo việc làm.
Vì vậy, nếu chỉ nhìn dưới góc độ ngân sách giảm một khoản thu thì chưa đầy đủ. Phải nhìn rộng hơn: khoản thu ngân sách giảm trong ngắn hạn có thể trở thành vốn lưu động, đầu tư, tiền lương, đơn hàng và sức mua mới trong nền kinh tế. Nói cách khác, đây là tư duy “nuôi dưỡng nguồn thu” thay vì chỉ tập trung khai thác nguồn thu trước mắt.
Phóng viên: Đối với một hộ kinh doanh hoặc doanh nghiệp nhỏ, theo ông, việc giảm 30% số thuế phải nộp có ý nghĩa thực tế như thế nào?
PGS.TS. Ngô Trí Long: Tôi cho rằng điều này có ý nghĩa rất cụ thể. Đối với doanh nghiệp lớn, một khoản tiền vài chục triệu đồng có thể không đáng kể. Nhưng đối với hộ kinh doanh, doanh nghiệp siêu nhỏ và doanh nghiệp nhỏ, vài chục triệu đồng có thể là một phần rất quan trọng của vốn lưu động.
Ví dụ, một doanh nghiệp xác định số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp là 100 triệu đồng. Khi được giảm 30%, doanh nghiệp giữ lại được 30 triệu đồng và chỉ phải nộp 70 triệu đồng. 30 triệu đồng đó không phải là con số nằm yên trên sổ sách. Doanh nghiệp có thể dùng để trả lương người lao động, thuê mặt bằng, mua nguyên liệu, thanh toán tiền điện, đầu tư thêm máy móc, phần mềm quản lý hoặc thực hiện một đơn hàng mới.
Vì vậy, giảm thuế chính là cải thiện dòng tiền. Mà đối với doanh nghiệp nhỏ, dòng tiền nhiều khi quan trọng không kém lợi nhuận. Một doanh nghiệp có thị trường nhưng thiếu vốn lưu động vẫn có thể gặp khó khăn. Ngược lại, thêm một phần dòng tiền đúng thời điểm có thể giúp doanh nghiệp tiếp tục sản xuất, giữ lao động và vượt qua giai đoạn khó khăn.
“Khoan sức dân” nhưng đồng thời phải khuyến khích kinh doanh minh bạch
Phóng viên: Vậy chính sách này có tác động gì đối với quá trình chuyển đổi hộ kinh doanh sang mô hình doanh nghiệp và thúc đẩy khu vực kinh tế chính thức, thưa ông?
PGS.TS. Ngô Trí Long: Đây là một tác động rất đáng quan tâm. Trong quá trình cải cách quản lý thuế, hộ kinh doanh ngày càng được khuyến khích thực hiện kế toán, hóa đơn điện tử, kê khai doanh thu và hoạt động minh bạch hơn. Nhưng muốn người dân tự nguyện bước vào khu vực kinh tế chính thức thì không thể chỉ đặt ra nghĩa vụ.
Nhà nước phải đồng thời tạo ra lợi ích của sự chính thức hóa. Người kinh doanh phải thấy rằng khi tuân thủ tốt, minh bạch hóa doanh thu, chuyển đổi thành doanh nghiệp thì họ được tiếp cận tín dụng thuận lợi hơn, mở rộng thị trường, ký được những hợp đồng lớn hơn và được hưởng các chính sách hỗ trợ phù hợp. Chính sách giảm thuế lần này góp phần tạo ra thông điệp rằng: Nhà nước yêu cầu minh bạch hơn, nhưng đồng thời cũng chia sẻ chi phí chuyển đổi và tạo thêm dư địa để người kinh doanh phát triển.
Đây là cách tiếp cận hợp lý. Về dài hạn, Việt Nam cần nhiều hộ kinh doanh có năng lực chuyển thành doanh nghiệp, nhiều doanh nghiệp nhỏ trở thành doanh nghiệp vừa và nhiều doanh nghiệp vừa vươn lên thành doanh nghiệp lớn. Khi đó nền kinh tế không chỉ tăng về số lượng chủ thể mà còn tăng về năng suất, trình độ quản trị và khả năng tham gia chuỗi giá trị.
![]() |
| PGS.TS Ngô Trí Long, chuyên gia kinh tế, Hiệp hội Tư vấn Tài chính Việt Nam. |
Phóng viên: Việc xác định mức doanh thu không quá 10 tỷ đồng để được hưởng chính sách hỗ trợ theo ông có ý nghĩa như thế nào? Trong quá trình thực hiện cần lưu ý điều gì để chính sách phát huy đúng mục tiêu khuyến khích doanh nghiệp phát triển?
PGS.TS. Ngô Trí Long: Việc xác định ngưỡng doanh thu không quá 10 tỷ đồng là có cơ sở nhằm tập trung nguồn lực hỗ trợ đúng nhóm doanh nghiệp quy mô nhỏ, còn hạn chế về vốn, năng lực quản trị và khả năng tích lũy. Đây cũng là cách thiết kế chính sách theo hướng có trọng tâm, tránh dàn trải và bảo đảm hiệu quả của nguồn lực hỗ trợ.
Điều quan trọng là cần hiểu rằng ngưỡng 10 tỷ đồng không phải là giới hạn mà doanh nghiệp nên duy trì, mà là một tiêu chí để xác định đối tượng được hỗ trợ trong một giai đoạn nhất định. Mục tiêu của chính sách vẫn là tạo thêm điều kiện để doanh nghiệp củng cố năng lực, mở rộng sản xuất, tăng doanh thu và từng bước phát triển lên quy mô lớn hơn.
Trong quá trình thực hiện, cơ quan quản lý nên tiếp tục theo dõi phản ứng của doanh nghiệp và diễn biến thị trường để bảo đảm chính sách đi đúng mục tiêu, đồng thời hạn chế những trường hợp lợi dụng chính sách hoặc chia tách hoạt động một cách không thực chất để duy trì điều kiện hưởng ưu đãi.
Nếu một doanh nghiệp từ mức doanh thu dưới 10 tỷ đồng, nhờ chính sách hỗ trợ mà phát triển lên 20 tỷ, 50 tỷ hay 100 tỷ đồng thì đó chính là kết quả tích cực mà chính sách hướng tới. Thành công của Nghị quyết về giảm thuế không nằm ở việc giữ nhiều doanh nghiệp trong nhóm nhỏ, mà ở khả năng tạo “bệ đỡ” để doanh nghiệp nhỏ trưởng thành, mở rộng quy mô và đóng góp ngày càng lớn hơn cho nền kinh tế.
Một đồng thuế được giảm có thể tạo ra nhiều vòng lan tỏa
Phóng viên: Ông nhiều lần nhấn mạnh “hiệu ứng lan tỏa”. Vậy từ việc giảm thuế cho một hộ kinh doanh hoặc một doanh nghiệp, tác động có thể lan sang toàn bộ nền kinh tế ra sao?
PGS.TS. Ngô Trí Long: Có thể hình dung ít nhất qua 4 vòng tác động.
Thứ nhất, giảm thuế làm tăng nguồn lực tài chính trong tay doanh nghiệp và người kinh doanh. Đây là tác động trực tiếp nhất. Khi nghĩa vụ thuế giảm, phần thu nhập có thể giữ lại để tái đầu tư tăng lên. Áp lực tài chính giảm và khả năng duy trì sản xuất được cải thiện.
Thứ hai, nguồn lực đó được chuyển thành đơn hàng và việc làm. Một doanh nghiệp dùng phần tiền được giảm thuế để mua nguyên liệu thì nhà cung cấp có thêm doanh thu. Doanh nghiệp dùng để trả lương thì người lao động có thêm khả năng chi tiêu. Doanh nghiệp mua máy móc thì đơn vị cung cấp máy móc có thêm đơn hàng. Như vậy, lợi ích không dừng ở người trực tiếp được giảm thuế.
Thứ ba, thu nhập và sức mua được cải thiện sẽ quay trở lại thị trường. Người lao động có việc làm và thu nhập ổn định sẽ mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ. Doanh nghiệp có đơn hàng sẽ tiếp tục mua nguyên vật liệu và thuê lao động. Một khoản tiền được giữ lại ở doanh nghiệp ban đầu vì thế có thể tiếp tục lưu chuyển qua nhiều chủ thể.
Thứ tư, tăng trưởng kinh tế cuối cùng sẽ tạo trở lại nguồn thu cho ngân sách. Khi doanh nghiệp phát triển, doanh thu tăng, việc làm tăng, tiêu dùng tăng thì nguồn thu ngân sách từ nhiều sắc thuế khác cũng có điều kiện tăng theo. Đó chính là lý do tôi cho rằng không nên đồng nhất giảm thuế với mất thu ngân sách. Trong một chính sách tài khóa được thiết kế tốt, Nhà nước có thể chấp nhận giảm một phần thu trước mắt để tạo ra một nền kinh tế lớn hơn, nhiều doanh nghiệp hơn và một cơ sở thuế rộng hơn trong tương lai.
Phóng viên: Như vậy, chính sách này không chỉ đơn thuần là hỗ trợ doanh nghiệp mà còn có thể hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế, thưa ông?
PGS.TS. Ngô Trí Long: Đúng như vậy. Tăng trưởng kinh tế cuối cùng phải được tạo ra từ hoạt động sản xuất, đầu tư, tiêu dùng và năng suất của hàng triệu chủ thể trong nền kinh tế. Hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ chính là những “tế bào” rất quan trọng của nền kinh tế. Họ có mặt trong thương mại, dịch vụ, sản xuất, vận tải, ăn uống, du lịch, xây dựng và hàng loạt ngành nghề khác. Nếu hàng triệu cơ sở kinh doanh cùng được giảm một phần áp lực tài chính, dù mức giảm đối với từng đơn vị không quá lớn, tác động cộng hưởng trên toàn nền kinh tế có thể rất đáng kể. Ta có thể hình dung một chuỗi truyền dẫn: Giảm thuế → tăng dòng tiền → duy trì sản xuất → giữ việc làm → tăng thu nhập → tăng tiêu dùng → tăng đơn hàng → kích thích sản xuất → tạo thêm nguồn thu ngân sách.
Đây chính là hiệu ứng số nhân mà chính sách cần hướng tới. Điều quan trọng là khoản tiền được giảm phải thực sự đi vào hoạt động sản xuất và kinh doanh. Khi đó, chính sách thuế trở thành một công cụ kích thích tăng trưởng chứ không chỉ đơn thuần là một biện pháp giảm nghĩa vụ tài chính.
![]() |
Chính sách giảm thuế không chỉ đơn thuần là tiếp sức cho doanh nghiệp mà nhìn rộng hơn còn là hỗ trợ mục tiêu tăng trưởng kinh tế. |
Giảm thuế hôm nay để có nguồn thu bền vững hơn ngày mai
Phóng viên: Ông có gợi mở gì về quá trình thực thi triển khai để Nghị quyết của Quốc hội thực sự đi vào cuộc sống và phát huy đầy đủ hiệu quả?
PGS.TS. Ngô Trí Long: Theo tôi, có 4 yêu cầu cần chú trọng trong quá trình triển khai thực thi chính sách.
Một là, thủ tục phải đơn giản, rõ ràng và dễ thực hiện. Người được hưởng chính sách phải biết ngay mình có thuộc đối tượng hay không và được giảm như thế nào.
Hai là, cách xác định doanh thu và số thuế được giảm phải thống nhất, tránh mỗi địa phương hoặc mỗi cơ quan thuế hiểu khác nhau.
Ba là, phải tăng ứng dụng dữ liệu, hóa đơn điện tử và quản lý rủi ro để phát hiện gian lận nhưng không làm tăng chi phí tuân thủ đối với đại đa số người kinh doanh chân chính.
Bốn là, cần đánh giá chính sách bằng những kết quả rộng hơn số thuế đã giảm: có bao nhiêu doanh nghiệp duy trì hoạt động, bao nhiêu việc làm được bảo vệ, bao nhiêu hộ kinh doanh chuyển lên doanh nghiệp, doanh thu và đầu tư của khu vực được hỗ trợ tăng ra sao.
Một chính sách thuế tốt không phải là chính sách thu được nhiều nhất trong một năm, mà là chính sách tạo được nguồn thu lớn hơn và bền vững hơn trong nhiều năm.
Phóng viên: Khái quát lại ý nghĩa lớn nhất của Nghị quyết vừa được Quốc hội thông qua, ông sẽ nhấn mạnh điều gì?
PGS.TS. Ngô Trí Long: Tôi cho rằng có thể khái quát bằng 3 từ: niềm tin – nguồn lực – tăng trưởng. Trước hết là niềm tin. Một chính sách chia sẻ khó khăn với người dân và doanh nghiệp cho thấy Nhà nước đồng hành cùng khu vực sản xuất, kinh doanh.
Tiếp theo là nguồn lực. Giảm thuế đồng nghĩa với việc để lại thêm vốn cho những người đang trực tiếp tạo ra hàng hóa, dịch vụ và việc làm.Và cuối cùng là tăng trưởng. Nếu nguồn lực ấy được đầu tư trở lại nền kinh tế thì nó sẽ tạo đơn hàng, việc làm, thu nhập và sức mua mới.
Do đó, tôi cho rằng không nên nhìn Nghị quyết chỉ như một chính sách giảm thuế trong 2 năm. Sâu xa hơn, đây là một bước cụ thể hóa quan điểm lấy sự phát triển của người dân và doanh nghiệp làm nền tảng cho sự phát triển của nền kinh tế và sự bền vững của ngân sách quốc gia. Có thể Nhà nước giảm một phần nguồn thu hôm nay, nhưng nếu nhờ đó hàng triệu chủ thể kinh doanh khỏe hơn, phát triển nhanh hơn, minh bạch hơn và tạo ra nhiều việc làm hơn thì nền kinh tế sẽ có một cơ sở thu rộng hơn vào ngày mai.
Đó chính là logic của “khoan sức dân để dưỡng nguồn thu”: giảm áp lực trước mắt để tạo sức bật dài hạn; hỗ trợ một chủ thể nhưng tạo lợi ích cho cả chuỗi kinh tế. Và theo tôi, đó mới là hiệu ứng lan tỏa quan trọng nhất của Nghị quyết Quốc hội lần này.









