Sự kiện
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Giảm 30% thuế: Tạo động lực để khu vực kinh doanh nhỏ lớn lên

Trao đổi với Tạp chí Kinh tế - Tài chính, ông Lưu Minh Sang, Phó Trưởng phụ trách Bộ môn Luật Tài chính - Ngân hàng, Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh cho rằng, để chính sách giẩm 30% thuế thu nhập phải nộp đối với cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp có doanh thu hằng năm không quá 10 tỷ đồng thực sự tạo động lực cho khu vực kinh doanh nhỏ, cần giảm chi phí tuân thủ, tạo lộ trình phù hợp khi quy mô kinh doanh tăng lên và bảo đảm các hình thức kinh doanh có thể phát triển trên cơ sở lợi ích thực chất.

Giảm 30% thuế: Tạo động lực để khu vực kinh doanh nhỏ lớn lên
Ông Lưu Minh Sang, Phó Trưởng phụ trách Bộ môn Luật Tài chính - Ngân hàng, Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh

Trao đổi với Tạp chí Kinh tế - Tài chính, ông Lưu Minh Sang, Phó Trưởng phụ trách Bộ môn Luật Tài chính - Ngân hàng, Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế - Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh cho rằng, để chính sách giẩm 30% thuế thu nhập phải nộp đối với cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp có doanh thu hằng năm không quá 10 tỷ đồng thực sự tạo động lực cho khu vực kinh doanh nhỏ, cần giảm chi phí tuân thủ, tạo lộ trình phù hợp khi quy mô kinh doanh tăng lên và bảo đảm các hình thức kinh doanh có thể phát triển trên cơ sở lợi ích thực chất.

Phóng viên: Thưa ông, từ chỉ đạo của Thủ tướng đến khi Quốc hội thông qua Nghị quyết ngày 24/8 là khoảng thời gian rất ngắn. Theo ông, tốc độ phản ứng này có ý nghĩa như thế nào đối với doanh nghiệp nhỏ và hộ kinh doanh?

Ông Lưu Minh Sang: Tôi cho rằng, trước khi bàn đến mức giảm 30%, một điểm đáng chú ý là tốc độ phản ứng của chính sách.

Trong điều hành kinh tế vĩ mô, một chính sách phù hợp nhưng được ban hành chậm có thể làm giảm đáng kể hiệu quả hỗ trợ. Với doanh nghiệp nhỏ, hộ và cá nhân kinh doanh, các quyết định về nhập hàng, thuê lao động, đầu tư máy móc, mở rộng điểm bán hay vay vốn đều chịu tác động trực tiếp từ dòng tiền và kỳ vọng kinh doanh trong những tháng tiếp theo.

Việc Chính phủ chủ động đề xuất để Quốc hội xem xét chính sách ngay tại Kỳ họp không thường lệ thứ nhất trong tháng 8 và Nghị quyết có hiệu lực từ ngày 24/8/2026 có ý nghĩa đáng kể đối với kỳ vọng của khu vực sản xuất, kinh doanh, bên cạnh lợi ích trực tiếp từ số thuế được giảm. Chính sách áp dụng cho kỳ tính thuế năm 2026 và năm 2027 nên doanh nghiệp và cá nhân kinh doanh thuộc diện thụ hưởng có thể tính đến khoản giảm nghĩa vụ thuế này khi xây dựng hoặc điều chỉnh kế hoạch tài chính ngay trong năm 2026.

Có thể nhìn vấn đề này dưới góc độ “độ trễ thể chế”. Chi phí đối với nền kinh tế không chỉ đến từ mức thuế cao hay thấp. Sự không chắc chắn về thời điểm và hướng thay đổi của chính sách cũng ảnh hưởng đến quyết định của doanh nghiệp. Việc một đề xuất chính sách được chuyển thành quyết định có hiệu lực pháp lý trong thời gian ngắn, đồng thời vẫn bảo đảm thẩm quyền và trình tự theo quy định, góp phần rút ngắn độ trễ này. Qua đó, các chủ thể kinh doanh có thêm cơ sở để hình thành kỳ vọng rằng công cụ tài khóa có thể được điều chỉnh tương đối kịp thời khi hoạt động sản xuất, kinh doanh cần được hỗ trợ.

Vì vậy, ý nghĩa của quyết định này vượt ra ngoài bản thân khoản giảm thuế. Chính sách cho thấy cách tiếp cận linh hoạt hơn trong sử dụng công cụ tài khóa, gắn việc thực hiện nghĩa vụ ngân sách với diễn biến thực tế của hoạt động sản xuất, kinh doanh và yêu cầu hỗ trợ tăng trưởng.

Phóng viên: Thưa ông, việc giảm trực tiếp 30% số thuế phải nộp thay vì điều chỉnh thuế suất cho thấy cách tiếp cận chính sách lần này có gì đáng chú ý?

Ông Lưu Minh Sang: Điểm đáng chú ý là mức hỗ trợ được tính trực tiếp trên số thuế phải nộp, còn trong khi các mức thuế suất hiện hành vẫn được giữ nguyên. Đây là biện pháp hỗ trợ có thời hạn, được thực hiện trên nền tảng của hệ thống thuế hiện có.

Cách thiết kế này cần được nhìn trong tổng thể các chính sách thuế đang áp dụng. Với doanh nghiệp, Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp quy định các mức thuế suất 15%, 17% và 20% tùy theo quy mô doanh thu và điều kiện áp dụng. Với hộ, cá nhân kinh doanh, từ năm 2026, ngưỡng doanh thu không phải nộp thuế thu nhập cá nhân và không chịu thuế giá trị gia tăng được nâng lên 1 tỷ đồng. Doanh nghiệp, tổ chức được thành lập theo pháp luật Việt Nam có tổng doanh thu năm từ 1 tỷ đồng trở xuống cũng có thể được miễn thuế thu nhập doanh nghiệp nếu đáp ứng các điều kiện luật định.

Trên nền chính sách đó, giảm 30% số thuế phải nộp là khoản hỗ trợ bổ sung cho cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp có doanh thu không quá 10 tỷ đồng nhưng vẫn phát sinh nghĩa vụ thuế. Những trường hợp đã được miễn thuế hoặc không có số thuế phải nộp sẽ không phát sinh thêm khoản giảm.

Cũng cần hiểu rõ rằng giảm 30% số thuế phải nộp không có nghĩa là giảm 30 điểm phần trăm thuế suất. Với doanh nghiệp đang được hưởng ưu đãi thuế theo Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp hoặc các luật, nghị quyết khác của Quốc hội, mức giảm 30% được tính trên số thuế còn phải nộp sau khi đã trừ phần ưu đãi.

Cách thiết kế này phù hợp với một chính sách hỗ trợ trong hai năm. Nhà nước có thể giảm nghĩa vụ thuế trong giai đoạn 2026–2027 mà không phải thay đổi các mức thuế suất hiện hành. Khi chính sách kết thúc, hệ thống thuế suất vẫn được giữ nguyên, qua đó hạn chế xáo trộn trong quá trình chuyển tiếp.

Phóng viên: Thưa ông, nếu ngưỡng áp dụng phương pháp tính thuế đơn giản được nâng từ 3 tỷ lên 10 tỷ đồng, điều này sẽ tác động như thế nào đến hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ?

Ông Lưu Minh Sang: Nếu được thực hiện, việc nâng ngưỡng này có thể tạo ra tác động lâu dài hơn so với chính sách giảm 30% số thuế phải nộp.

Hai chính sách giải quyết hai vấn đề khác nhau. Giảm thuế giúp người nộp thuế giảm nghĩa vụ tài chính, đơn giản hóa cách tính thuế giúp giảm thời gian, công sức và chi phí tuân thủ. Với hộ và cơ sở kinh doanh nhỏ, chi phí thuê kế toán, sử dụng phần mềm, lưu giữ chứng từ, xử lý hóa đơn hay lo ngại sai sót khi thực hiện nghĩa vụ thuế cũng là những gánh nặng đáng kể.

Theo quy định hiện hành, mức doanh thu 3 tỷ đồng là một mốc quan trọng. Hộ, cá nhân kinh doanh có doanh thu trên 1 tỷ đồng đến 3 tỷ đồng được lựa chọn tính thuế theo tỷ lệ trên doanh thu hoặc theo thu nhập tính thuế. Khi doanh thu vượt 3 tỷ đồng, về nguyên tắc phải chuyển sang phương pháp tính theo thu nhập. Đối với doanh nghiệp, pháp luật hiện hành cũng cho phép doanh nghiệp có doanh thu không quá 3 tỷ đồng áp dụng cách tính thuế theo tỷ lệ trên doanh thu trong một số trường hợp.

Bộ Tài chính đang đề xuất nâng ngưỡng áp dụng phương pháp tính thuế đơn giản lên 10 tỷ đồng một năm đối với hộ, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp. Nội dung này dự kiến tiếp tục được hoàn thiện trong quá trình sửa đổi Luật Hỗ trợ doanh nghiệp nhỏ và vừa để trình Quốc hội tại kỳ họp tháng 10/2026. Đây vẫn là chính sách đang được nghiên cứu, chưa phải nội dung đã được Quốc hội quyết nghị cùng chính sách giảm 30% số thuế phải nộp ngày 24/8.

Tôi ủng hộ hướng đơn giản hóa này, nhưng cách tính thuế vẫn cần phù hợp với đặc điểm của từng hoạt động kinh doanh. Ví dụ, cùng doanh thu 8 tỷ đồng, một doanh nghiệp thương mại có lợi nhuận thấp sẽ rất khác một cơ sở dịch vụ có tỷ suất lợi nhuận cao. Nếu chỉ tính thuế theo doanh thu với một tỷ lệ chưa phản ánh hợp lý sự khác biệt giữa các ngành, thì thủ tục có thể đơn giản hơn, nhưng gánh nặng thuế thực tế có thể không công bằng.

Nếu ngưỡng được nâng lên 10 tỷ đồng, người nộp thuế vẫn nên được lựa chọn giữa cách tính đơn giản và cách tính dựa trên thu nhập thực tế. Tỷ lệ tính thuế theo doanh thu cũng cần phù hợp với từng nhóm hoạt động.

Quan trọng hơn, chính sách cần tạo ra một lộ trình để hộ và cơ sở kinh doanh có thể lớn lên mà không gặp bước chuyển quá đột ngột về thủ tục. Khi quy mô còn nhỏ, yêu cầu về thuế và kế toán nên đơn giản, khi hoạt động mở rộng, các yêu cầu về kế toán và quản trị có thể tăng dần theo quy mô. Cách làm này vừa giảm chi phí tuân thủ, vừa giúp hộ kinh doanh từng bước nâng cao năng lực quản trị.

Phóng viên: Thưa ông, giảm thuế có thể tạo thêm động lực, nhưng liệu đã đủ để thúc đẩy hộ kinh doanh chuyển đổi thành doanh nghiệp? Theo ông, đâu là yếu tố quyết định?

Ông Lưu Minh Sang: Chính sách này có tác động tích cực, nhưng sẽ khó giải quyết bài toán chuyển đổi hộ kinh doanh thành doanh nghiệp nếu chỉ dựa vào giảm thuế.

Một trong những lý do khiến nhiều hộ kinh doanh còn e ngại chuyển đổi là chi phí và thủ tục tăng lên khi trở thành doanh nghiệp. Kế toán phải bài bản hơn, yêu cầu về báo cáo, hóa đơn, lao động, bảo hiểm và các nghĩa vụ quản lý khác cũng nhiều hơn. Với một hộ đang quen với cách quản lý tương đối đơn giản, đây là những vấn đề họ phải cân nhắc rất thực tế.

Bởi vậy, ưu đãi thuế khi mới thành lập doanh nghiệp là cần thiết nhưng chưa đủ. Nếu hết thời gian ưu đãi mà chi phí tuân thủ tăng mạnh, động lực chuyển đổi có thể giảm đi.

Điểm đáng chú ý trong chính sách hiện nay là cả khu vực hộ, cá nhân kinh doanh và doanh nghiệp quy mô nhỏ đều được hỗ trợ. Với doanh thu không quá 10 tỷ đồng, cá nhân kinh doanh được giảm 30% số thuế thu nhập cá nhân phải nộp và doanh nghiệp được giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong kỳ tính thuế năm 2026 và 2027. Cách thiết kế này giúp chính sách hỗ trợ không chỉ tập trung vào một hình thức kinh doanh, dù mức thuế thực tế giữa hộ kinh doanh và doanh nghiệp vẫn phụ thuộc vào cách tính thuế và các ưu đãi của từng nhóm.

Muốn hộ kinh doanh thực sự có động lực chuyển thành doanh nghiệp, bản thân việc chuyển đổi phải mang lại lợi ích rõ ràng cho họ. Chẳng hạn, mô hình doanh nghiệp có thể tạo điều kiện thuận lợi hơn để tiếp cận vốn, tham gia chuỗi cung ứng, đấu thầu, ký hợp đồng với các đối tác lớn và xây dựng cách quản trị bài bản hơn. Khi những lợi ích này đủ lớn, người kinh doanh sẽ nhìn việc chuyển đổi như một bước phát triển của hoạt động kinh doanh, chứ không đơn thuần là thay đổi hình thức pháp lý.

Nghị quyết số 198/2025/QH15 đã đi theo hướng đó. Bên cạnh ưu đãi về thuế, Nghị quyết còn có các chính sách hỗ trợ nền tảng số, phần mềm kế toán, tư vấn pháp lý và đào tạo về quản trị, kế toán, thuế, nhân sự. Một số gói thầu xây lắp, mua sắm hàng hóa và gói thầu hỗn hợp sử dụng ngân sách nhà nước có giá không quá 20 tỷ đồng cũng được dành cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.

Điều quan trọng là các chính sách này phải được kết nối với nhau. Khi đó, hộ kinh doanh sẽ thấy rằng chuyển thành doanh nghiệp không phải chỉ để thực hiện nhiều nghĩa vụ quản lý hơn, mà còn mở ra những cơ hội kinh doanh mà mô hình hộ khó tiếp cận. Đó mới là động lực chuyển đổi bền vững.

Phóng viên: Thưa ông, từ những phân tích trên, chính sách thuế cần được thiết kế như thế nào để vừa hỗ trợ khu vực kinh doanh nhỏ, vừa tạo điều kiện để các cơ sở kinh doanh lớn lên?

Ông Lưu Minh Sang: Chính sách thuế đối với hộ kinh doanh và doanh nghiệp nhỏ nên hướng tới ba điều: dễ hiểu, công bằng và không cản trở quá trình lớn lên của người kinh doanh.

Dễ hiểu là người kinh doanh phải biết mình thuộc diện nào, phải nộp loại thuế gì, tính thuế ra sao và cần làm những thủ tục nào. Một chính sách quá phức tạp sẽ làm tăng chi phí kế toán, tư vấn và thời gian tuân thủ, nhất là với các cơ sở có quy mô nhỏ.

Công bằng ở đây là chính sách thuế không nên khiến người kinh doanh phải chọn mô hình hộ hay doanh nghiệp chỉ vì chênh lệch về nghĩa vụ thuế. Họ nên lựa chọn hình thức kinh doanh phù hợp với quy mô, cách quản lý và kế hoạch phát triển của mình.

Điểm thứ ba là chính sách không nên tạo ra những ngưỡng khiến cơ sở kinh doanh ngại tăng doanh thu. Khi quy mô lớn hơn, yêu cầu về thuế, kế toán và quản trị có thể tăng lên, nhưng nên tăng từng bước để người kinh doanh có thời gian thích nghi.

Vì vậy, việc giảm 30% số thuế phải nộp trong năm 2026 và 2027 là một hỗ trợ cần thiết trong ngắn hạn. Nhưng về lâu dài, điều quan trọng hơn là làm cho hệ thống thuế đơn giản hơn, chi phí tuân thủ thấp hơn và cách quản lý phù hợp hơn với từng quy mô kinh doanh.

Đây cũng là trách nhiệm từ hai phía. Nhà nước cần tạo một hệ thống dễ thực hiện và giảm những thủ tục không cần thiết. Người kinh doanh cũng phải minh bạch doanh thu, sử dụng hóa đơn, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ thuế và từng bước nâng cao cách quản lý. Cơ quan thuế cần tăng sử dụng dữ liệu và quản lý theo rủi ro để giảm bớt việc kiểm tra trực tiếp.

Khi làm được như vậy, vấn đề sẽ không còn chỉ là giữ hộ kinh doanh hay khuyến khích họ chuyển thành doanh nghiệp. Quan trọng hơn là tạo điều kiện để các cơ sở kinh doanh hoạt động minh bạch, hiệu quả và có thể lớn lên khi họ có đủ năng lực.

Phóng viên: Trân trọng cảm ơn ông!


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết