Sự kiện
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Sửa Luật Đầu tư: Đổi tư duy thu hút FDI, nâng chất lượng dòng vốn

Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế, đóng góp tích cực vào tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cùng với quá trình hoàn thiện thể chế, môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam từng bước được cải thiện, thủ tục đầu tư và điều kiện kinh doanh tiếp tục được đơn giản hóa.

Sửa Luật Đầu tư: Đổi tư duy thu hút FDI, nâng chất lượng dòng vốn
Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng
của nền kinh tế. Ảnh: Lê Toàn

Chuyển mạnh từ “thu hút vốn” sang “thu hút giá trị”

Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã trở thành một bộ phận quan trọng của nền kinh tế, đóng góp tích cực vào tăng trưởng, chuyển dịch cơ cấu và quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Cùng với quá trình hoàn thiện thể chế, môi trường đầu tư kinh doanh của Việt Nam từng bước được cải thiện, thủ tục đầu tư và điều kiện kinh doanh tiếp tục được đơn giản hóa.

Tuy nhiên, yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới đang đặt ra cách tiếp cận mới đối với dòng vốn quốc tế. Chất lượng và hiệu quả thu hút, quản lý, sử dụng đầu tư nước ngoài cần tiếp tục được nâng lên, nhất là trong bối cảnh tỷ lệ nội địa hóa còn thấp, liên kết giữa doanh nghiệp FDI và doanh nghiệp trong nước chưa chặt chẽ, hàm lượng công nghệ, chuyển giao công nghệ và hoạt động nghiên cứu và phát triển còn hạn chế.

Trong khi đó, quá trình tái cấu trúc chuỗi cung ứng toàn cầu, dịch chuyển đầu tư, sự phát triển của các công nghệ chiến lược, các yêu cầu về tiêu chuẩn xanh, dữ liệu và an ninh kinh tế đang làm thay đổi phương thức cạnh tranh trong thu hút đầu tư quốc tế. Lợi thế về chi phí thấp và ưu đãi đầu vào không còn là yếu tố duy nhất; chất lượng thể chế, hạ tầng, nhân lực, dữ liệu, năng lượng, khả năng tiếp nhận công nghệ và năng lực đổi mới sáng tạo ngày càng có vai trò quyết định.

Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã xác định các nhóm nhiệm vụ trọng tâm về hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, đổi mới định hướng thu hút đầu tư theo ngành, lĩnh vực, địa bàn; thúc đẩy kinh tế xanh, kinh tế số, chuyển giao công nghệ và tăng cường liên kết giữa khu vực FDI với khu vực kinh tế trong nước.

Từ yêu cầu đó, việc sửa đổi Luật Đầu tư được đặt trong tổng thể chuyển đổi tư duy về FDI, từ thu hút nguồn vốn đơn thuần sang thu hút những dự án tạo ra giá trị gia tăng cao, có khả năng lan tỏa công nghệ, phát triển nguồn nhân lực, hình thành hệ sinh thái cung ứng và nâng cao năng lực nội tại của nền kinh tế.

Định hướng này cũng được thể hiện rõ trong kết luận của Ban Chỉ đạo Trung ương về hoàn thiện thể chế và thực thi pháp luật khi tập trung ưu tiên FDI công nghệ hiện đại, giá trị gia tăng cao, liên kết nội địa, đóng góp vào chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, đào tạo nhân lực và đổi mới sáng tạo; đồng thời gắn ưu đãi với kết quả thực hiện các cam kết cụ thể của nhà đầu tư.

Như vậy, tiêu chí đánh giá một dự án FDI không chỉ nằm ở quy mô vốn đăng ký hay số lượng dự án, mà ngày càng phải nhìn vào “giá trị sau đầu tư”, dự án tạo ra công nghệ gì, đóng góp thế nào cho hệ sinh thái sản xuất trong nước, có phát triển được mạng lưới nhà cung ứng Việt Nam hay không, mức độ đào tạo nhân lực ra sao và đóng góp như thế nào cho năng lực cạnh tranh dài hạn của nền kinh tế.

Thiết kế lại chính sách ưu đãi, thủ tục và quản lý theo kết quả

Từ yêu cầu chuyển đổi tư duy thu hút FDI, Bộ Tài chính đã xây dựng dự án Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu tư để thể chế hóa các nhiệm vụ được giao tại Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị. Dự thảo Luật tập trung hoàn thiện nhiều nhóm chính sách, trong đó đáng chú ý là mở rộng khả năng tiếp cận thị trường, đổi mới cơ chế ưu đãi và hỗ trợ đầu tư, cải cách thủ tục và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước.

Về tiếp cận thị trường, dự thảo Luật bổ sung quy định cho phép Chính phủ xem xét, quyết định việc nới lỏng điều kiện tiếp cận thị trường trong các ngành, nghề hạn chế tiếp cận đối với nhà đầu tư nước ngoài, căn cứ điều kiện kinh tế - xã hội và yêu cầu quản lý nhà nước từng thời kỳ. Việc nới lỏng phải bảo đảm công khai, minh bạch, áp dụng thống nhất và không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư.

Cùng với đó, chính sách hỗ trợ đầu tư được thiết kế theo hướng sát hơn với nhu cầu phát triển của doanh nghiệp và chuỗi giá trị. Dự thảo Luật bổ sung 4 hình thức hỗ trợ mới gồm: hỗ trợ phát triển chuỗi cung ứng; hỗ trợ sản xuất, cải tiến sản phẩm và công nghệ; hỗ trợ đầu tư ban đầu và đầu tư tạo tài sản cố định; hỗ trợ hợp tác, liên kết giữa doanh nghiệp với cơ sở giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp và tổ chức khoa học, công nghệ.

Đây là thay đổi có ý nghĩa về chất trong chính sách hỗ trợ. Nếu trước đây trọng tâm thường được đặt vào việc tạo điều kiện cho dự án gia nhập và triển khai, thì cách tiếp cận mới hướng nhiều hơn tới việc xây dựng hệ sinh thái xung quanh dự án. Khi doanh nghiệp FDI được hỗ trợ phát triển chuỗi cung ứng, cải tiến công nghệ và liên kết với cơ sở đào tạo, khu vực doanh nghiệp trong nước cũng có thêm cơ hội tham gia sâu hơn vào quá trình sản xuất và nâng cấp năng lực.

Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị đặt mục tiêu trong giai đoạn 2026-2030, thu hút vốn đầu tư nước ngoài đăng ký khoảng 200-300 tỷ USD (40-50 tỷ USD/năm); vốn thực hiện khoảng 150-200 tỷ USD (30-40 tỷ USD/năm); 75% vốn đầu tư nước ngoài đến từ các nền kinh tế phát triển, có tiềm lực về công nghệ, vốn và quản trị hiện đại; số lượng tập đoàn đa quốc gia trong danh sách Fortune 500 có hoạt động đầu tư tại Việt Nam tăng 30%; tỷ lệ nội địa hóa trung bình trong các ngành công nghiệp chủ lực đạt từ 45-50%; phấn đấu có khoảng 10.000 doanh nghiệp trong nước tham gia chuỗi giá trị, chuỗi cung ứng của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài...

Đặc biệt, dự thảo sửa đổi quy định về ưu đãi và hỗ trợ đầu tư đặc biệt theo hướng cho phép Chính phủ quyết định gói chính sách ưu đãi, hỗ trợ vượt trội gắn với kết quả thực hiện cam kết của nhà đầu tư đối với một số dự án cụ thể cần thu hút kịp thời, có khả năng tạo tác động lan tỏa và thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội.

Điều này cho thấy sự chuyển dịch từ tư duy “ưu đãi để thu hút” sang “hỗ trợ để tạo kết quả”. Ưu đãi không chỉ là lợi ích dành cho nhà đầu tư khi bước vào thị trường, mà ngày càng gắn với những kết quả mà dự án tạo ra trong suốt quá trình hoạt động.

Cùng với chính sách ở cấp Trung ương, dự thảo cũng tăng thêm dư địa chủ động cho địa phương. Hội đồng nhân dân cấp tỉnh căn cứ khả năng cân đối ngân sách và định hướng phát triển kinh tế - xã hội từng thời kỳ có thể quyết định sử dụng ngân sách địa phương để hỗ trợ chi phí đào tạo lao động cho doanh nghiệp FDI; đồng thời có thể quyết định hỗ trợ chi phí nhằm thu hút các dự án đầu tư chiến lược, có tác động lớn đến phát triển kinh tế - xã hội của địa phương. Tiêu chí, điều kiện, quy trình, thủ tục và mức hỗ trợ do Hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định.

Cách thiết kế này gắn với yêu cầu “địa phương quyết, địa phương làm, địa phương chịu trách nhiệm”, đồng thời tạo điều kiện để chính sách thu hút đầu tư phù hợp hơn với lợi thế, nhu cầu và định hướng phát triển của từng địa bàn.

Một điểm mới khác là hoàn thiện cơ chế Quỹ Hỗ trợ đầu tư. Dự thảo giao Chính phủ quy định chi tiết về mô hình hoạt động, địa vị pháp lý, nguồn ngân sách cấp hằng năm và bổ sung cho Quỹ, đối tượng, tiêu chí, điều kiện, hình thức và mức hỗ trợ, cơ chế hoàn trả chi phí hỗ trợ cùng các chính sách đặc thù khác.

Song song với ưu đãi và hỗ trợ, cải cách thủ tục đầu tư tiếp tục là một trụ cột quan trọng. Đây là yêu cầu xuyên suốt trong các chủ trương về hoàn thiện thể chế, cải thiện môi trường kinh doanh và giảm chi phí tuân thủ. Kết luận số 18-KL/TW ngày 2/4/2026 đặt mục tiêu hoàn thành việc cắt giảm 50% thời gian giải quyết thủ tục hành chính và 50% chi phí tuân thủ thủ tục hành chính của năm 2026 so với năm 2024 ở cả Trung ương và địa phương.

Theo đó, cải cách thủ tục đầu tư không chỉ nhằm rút ngắn thời gian gia nhập thị trường mà còn phải tạo một môi trường pháp lý minh bạch, ổn định, nhất quán, dễ dự báo và có chi phí tuân thủ thấp. Dự thảo cũng hoàn thiện quy định về Cổng một cửa đầu tư quốc gia, cơ chế hỗ trợ, giám sát, kiểm tra, đánh giá đầu tư và trách nhiệm quản lý nhà nước.

Đáng chú ý, định hướng quản lý cũng chuyển từ quản lý từng khâu sang quản trị toàn bộ vòng đời dự án. Điều này gắn với việc tăng cường đánh giá hiệu quả hoạt động đầu tư, giám sát việc thực hiện cam kết và xây dựng cơ chế hậu kiểm. Quan điểm này phù hợp với định hướng không chỉ tạo thuận lợi để nhà đầu tư đến Việt Nam mà còn bảo đảm các cam kết về công nghệ, nghiên cứu và phát triển, chuyển giao công nghệ, đào tạo lao động, phát triển nhà cung ứng nội địa, bảo vệ môi trường và tuân thủ pháp luật được thực hiện trên thực tế.

Nhìn tổng thể, dự thảo Luật đang đặt nền tảng cho chính sách FDI mới, mở rộng tiếp cận thị trường nhưng có chọn lọc; tăng tính cạnh tranh của ưu đãi nhưng gắn với kết quả; phân cấp mạnh hơn nhưng đi cùng trách nhiệm; tạo thuận lợi cho đầu tư nhưng tăng cường hậu kiểm và đánh giá hiệu quả.

Các chính sách được đề xuất không chỉ cải thiện các chỉ tiêu thu hút đầu tư, mà còn hướng đến nâng cao chất lượng của nền kinh tế thông qua dòng vốn quốc tế. Theo định hướng được đặt ra, FDI cần gắn với nâng cao năng lực nội tại, phát triển nền kinh tế độc lập, tự chủ, tự lực, tự cường; chuyển từ thu hút đầu tư theo địa giới hành chính sang thu hút theo cụm ngành, chuỗi giá trị và hệ sinh thái đổi mới sáng tạo; lấy chất lượng, hiệu quả, công nghệ, chuyển giao công nghệ, tham gia chuỗi cung ứng và giá trị gia tăng làm các tiêu chí chủ yếu.

Đây cũng là cơ sở để hình thành một môi trường đầu tư có sức cạnh tranh cao hơn trong khu vực và quốc tế, hướng tới mục tiêu đưa môi trường đầu tư của Việt Nam vào nhóm 3 nước dẫn đầu ASEAN và nhóm 30 quốc gia hàng đầu thế giới vào năm 2028. Đồng thời, hiệu lực quản lý nhà nước được nâng lên trên nền tảng phân cấp, phân quyền rõ ràng, gắn với điều phối quốc gia, liên kết vùng, thanh tra, kiểm tra, giám sát và trách nhiệm giải trình.

Trong bối cảnh cạnh tranh thu hút dòng vốn quốc tế ngày càng quyết liệt, việc hoàn thiện khung khổ pháp lý về đầu tư là bước chuyển trong tư duy phát triển. Theo đó, thu hút FDI không dừng ở việc đưa nguồn vốn vào nền kinh tế, mà phải biến nguồn vốn đó thành công nghệ, năng lực sản xuất, nhân lực, doanh nghiệp cung ứng, đổi mới sáng tạo và giá trị gia tăng trong nước.

Thực hiện được sự chuyển đổi này, dòng vốn FDI sẽ không chỉ “đến Việt Nam” mà có thể gắn bó sâu hơn với nền kinh tế Việt Nam và trở thành một động lực góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh, sức chống chịu và vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.


Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Video